vanban.org

Bản án 301/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Kiên C.

Buộc Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Kiên C số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng) theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB ngày 08/3/2024, trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày ông C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH TM-DV-SX-X… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Kiên C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 301/2025/DS-ST
Ngày: 11/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Công Trí;

Bà Võ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân quận G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G không tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1070/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2025/QĐXXST- DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Kiên C; Địa chỉ: Số 1 đường TH, Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1976; Địa chỉ: 3 Chung cư PĐ, tổ B, khu phố S, phường LB, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ông Phạm Minh H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số 1 đường GX, phường HA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 000914, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/7/2024 tại Văn phòng Công chứng Phạm Văn Khanh, Thành phố Hồ Chí Minh) (ông H có mặt).

- Bị đơn: Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV; Trụ sở: Số 8 đường QT, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê V - Giám đốc; Địa chỉ: Số 8 đường QT, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Minh H trình bày:

Ngày 08/3/2024 ông Đặng Kiên C và Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV (viết tắt là Công ty TV) ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB đối tượng mua bán là nhà lắp ghép (R3000 x D6000 x C2800), với giá là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng). Ngay sau khi ký hợp đồng, ông C đã thanh toán cho Công ty TV số tiền 32.000.000 đồng (đính kèm xác nhận của ông Lê V là người đại diện theo pháp luật của Công ty TV xác nhận tại trang số 4 của Hợp đồng với nội dung: “xác nhận đã nhận 50% tiền làm nhà lắp ghép đã nhận 32.000.000 đồng từ tài khoản BIBV 680269016 của bên B (ông Đặng Kiên C) chuyển cho bên A (Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV) vào số tài khoản 224463329 tại ACB”.

Sau khi ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB ngày 08/3/2024 thì Công ty TV đã không thực hiện thi công công trình theo nội dung hợp đồng đã ký kết. Ông C đã nhiều lần liên hệ với người đại diện theo pháp luật của Công ty TV yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu Công ty TV phải có trách nhiệm trả lại cho ông C số tiền 32.000.000 đồng. Sau nhiều lần hứa hẹn thông qua các cuộc gọi và nhắn tin cho ông Lê V - giám đốc Công ty TV thì ngày 17/5/2024 ông Lê V đã cam kết với nội dung: “Không trả tiền cọc 32 triệu cho nhà E C thì phải chịu trách nhiệm đóng 20% phí của 32 triệu tiền cọc. Trong 17h ngày 18/5/2024”. Nội dung tin nhắn trên được hiểu là nếu sau 17 giờ ngày 18/5/2024, Công ty TV không trả lại số tiền 32.000.000 đồng cho ông C thì Công ty TV còn phải chịu thêm số tiền phạt, bồi thường là 20% của số tiền 32.000.000 đồng, là 6.400.000 đồng. Tuy nhiên, Công ty TV cũng không trả lại cho ông C số tiền 32.000.000 đồng và khoản tiền bồi thường phát sinh như cam kết tại tin nhắn.

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy bỏ hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB ngày 08/3/2024 giữa ông Đặng Kiên C và Công ty TV;

- Buộc Công ty TV trả cho ông C số tiền 32.000.000 đồng;

- Trả số tiền lãi tạm tính từ tháng 3/2024 đến tháng 8/2024 là 05 tháng, lãi suất là 1%/tháng với số tiền là 1.600.000 đồng và số tiền phạt vi phạm là 6.400.000 đồng.

Ngày 05/6/2025 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có Đơn đề nghị không yêu cầu hủy hợp đồng mua bán và rút yêu cầu Công ty TV trả số tiền lãi và tiền phạt. Đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu Công ty TV có nghĩa vụ trả lại cho ông C số tiền 32.000.000 đồng.

2. Bị đơn là Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV và ông Lê V là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV đã được Tòa án tống đạt, niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đến tòa để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn không đến Tòa nên không ghi nhận được ý kiến và cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

3.Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV phải có trách nhiệm trả cho ông C số tiền 32.000.000 đồng và rút yêu cầu Công ty TV trả tiền lãi và trả tiền phạt.

Bị đơn Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa theo Công văn số 39/CV-KSXX-DS ngày 13/5/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Ông C khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV trả lại số tiền từ hợp đồng mua bán theo hợp đồng mua bán ngày 08/3/2024. Công ty TV có trụ sở tại Số 8 đường QT, Phường T, quận G. Căn cứ Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Về thủ tục tố tụng và người tham gia tố tụng:

Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV là bị đơn, ông Lê V là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên Tòa án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Đặng Kiên C:

Căn cứ Điều 05 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những vấn đề liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Căn cứ lời khai của các đương sự cũng như các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Ngày 08/3/2024, ông Đặng Kiên C và Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB đối tượng mua bán là nhà lắp ghép với giá là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng). Ngay sau khi ký hợp đồng, ông C đã thanh toán cho Công ty TV số tiền 32.000.000 đồng (đính kèm xác nhận của ông Lê V là người đại diện theo pháp luật của Công ty TV xác nhận tại trang số 4 của Hợp đồng với nội dung: “xác nhận đã nhận 50% tiền làm nhà lắp ghép đã nhận 32.000.000 đồng từ tài khoản BIBV 680269016 của bên B (ông Đặng Kiên C) chuyển cho bên A (Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV) vào số tài khoản 224463329 tại ACB”.

Đồng thời, ngày 09/5/2024, ông Lê V cũng viết cam kết với nội dung: “Chuyển trả lại tiền ứng đợt 1 cho chủ nhà A.C 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng) TK: 1680269016 BIDV”.

Xét, các bên đương sự giao kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB ngày 08/3/2024 và các cam kết viết tay của ông Lê V tại các trang sau của Hợp đồng này ông Lê V đều thỏa thuận đồng ý trả lại số tiền 32.000.000 đồng cho ông C. Tuy nhiên, cho đến nay ông Lê V – giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty TV vẫn chưa trả số tiền 32.000.000 đồng theo thỏa thuận đã cam kết. Yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại Điều 430, 434, 436, 437 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Ngày 05/6/2025 và tại phiên tòa, xét nguyên đơn có Đơn rút yêu cầu Công ty TV trả tiền lãi và tiền phạt. Nguyên đơn rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết với yêu cầu Công ty TV trả tiền lãi và tiền phạt.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện.

Bị đơn phải chịu án phí là 1.600.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 430, Điều 434, Điều 436 và Điều 437 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Kiên C.

Buộc Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Kiên C số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng) theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số 79/2023-HĐMB ngày 08/3/2024, trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Kiên C đối với yêu cầu Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV trả số tiền lãi và tiền phạt.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH TM-DV-SX-XD TV phải chịu án phí là 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng).

Ông Đặng Kiên C không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000 đồng theo biên lai thu số 0014741 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án theo đúng quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP.HCM;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận G;

- Chi cục THADS quận G;

- Các đương sự;

- Lưu VP, hồ sơ.

Hoàng Thị Chinh

ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Đặng Công Trí

Võ Thị Mai

Hoàng Thị Chinh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP.HCM;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận G;

- Chi cục THADS quận G;

- Các đương sự;

- Lưu VP, hồ sơ.

Hoàng Thị Chinh

ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Phạm Nguyễn Anh Tuấn

Võ Thành Viên

Hoàng Thị Chinh

Cỡ chữ