- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân T - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 301/2022/HS-ST Ngày: 08-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Triệu Văn Giản
- Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 276/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân T, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1970 tại: Tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: xxxxxxxxx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân T1 (đã chết) và bà Phạm Thị T2; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thị G (đã ly hôn) và 01 con (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08-4-1989 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản công dân"; ngày 15-10-2013 Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy Công an tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; ngày 10-6-2015 Công an phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định xử phạt cảnh cáo về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy"; ngày 05-5-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 11-5-2018 chấp hành xong quyết định. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16-9-2022, chuyển tạm giam từ ngày 25-9-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Ông Phạm Tiến D
Bà Trần Như D1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 15-9-2022, tổ công tác Công an phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 333 đường Phù Nghĩa, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Xuân T điều khiển xe máy biển kiểm soát: 18Z6 - 9973 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra thu giữ trong tay trái của T 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Xuân T. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 xe máy biển kiểm soát: 18Z6 - 9973 đã cũ.
Bản kết luận giám định số 1355/KL-KTHS ngày 21-9-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,111 gam (khổng phẩy một trăm mười một gam).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân T khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 15-9-2022, T điều khiển xe máy biển kiểm soát: 18Z6 - 9973 đến khu vực đầu mom đê Thành Nam, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng. T cầm gói ma túy trong tay trái, rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 280/CT-VKS-TPNĐ ngày 24-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Xuân T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Xuân T từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo Trần Xuân T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Xuân T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15-9-2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 15-9-2022; Bản kết luận giám định số 1355/KL-KTHS ngày 21-9-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 15-9-2022, tại khu vực trước cửa nhà số 333 đường Phù Nghĩa, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định, Trần Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,111 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,111 gam. Vì vậy bị cáo Trần Xuân T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Xuân T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Xuân T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Xét bị cáo Trần Xuân T là đối tượng có nhân thân xấu, bị cáo đã 01 lần bị đưa ra xét xử; 02 lần bị xử phạt hành chính; 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc để xử phạt bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Xuân T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Xuân T là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Xuân T, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra để điều tra xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Đối với chiếc xe máy BKS 18Z6 - 9973 là tài sản của chị Trần Thị T3, sinh năm 1974, trú tại: Đường N, phường L, thành phố N (em gái của Thành). Chị Thảo không biết việc Trần Xuân T mượn xe đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Trần Thị T3 là đúng quy định pháp luật.
Về án phí:
Bị cáo Trần Xuân T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân T 02 năm (hai năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16-9-2022.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1355/KL-KTHS ngày 21-9-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-10-2022).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Xuân T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Xuân T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Xuân T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thu Định |