vanban.org

Bản án 301/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn về giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Xử phạt: Bị cáo Lâm Bá G 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự phúc thẩm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 301/2020/HS -PT
Ngày 06 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các thẩm phán: Bà Lê Thị Dung

Bà Lê Thị Hiệu

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Vũ Trọng Trạng – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 239/2020/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Lâm Bá G do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 273/2020/QĐXXPT-HS ngày 21/10/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo: Lâm Bá G - Sinh năm: 1994; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn V, xã Đ, huyện S, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Bá T và bà Nguyễn Thị C; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/11/2016 Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của ngươi khác; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Doãn T – sinh năm: 1973.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo: Chị Lê Thị H - sinh năm: 1976 (là vợ của anh Lê Doãn T) – có mặt

Cùng địa chỉ: xã Đ, huyện S, tỉnh Thanh Hóa;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Doãn L - sinh năm: 1972

Địa chỉ: xã Đ, huyện S, tỉnh Thanh Hóa - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 26/01/2020, Lâm Bá G có Giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe mô tô BKS 29H3-3540 đi chúc Tết, khi đi đến gần ngã tư thôn Đức Thắng, xã Đ, huyện S, tỉnh Thanh Hóa thì G phát hiện phía trước cách khoảng 08m có một xe mô tô BKS 36H5-0654 do anh Lê Doãn L điều khiển chở phía sau là anh Lê Doãn T (em trai) đang đi qua nga tư giao nhau với đưỡ

̀ ng liên xã , hướ ng từ thôn Văn Ba sang thôn Đứ c Thắng , khi xe mô tô của anh L đa sang hết ngã

tữ đườ ng giao nhau , sát mép đường giao nhau với đường liên xã , lúc này Giáp điều khiển xe mô tô không giảm tốc đô ̣ và không nhườ ng đườ ng cho xe đi từ bên phải đến, Giáp vẫn điều khiển xe vượt qua ngã tư và bấm còi , đạp phanh, đánh lái sang phía bên trái đườ ng theo hướng đi của mình để tránh xe mô tô của anh Lợi nhưng không kịp nên đâm vào xe mô tô do anh L điều khiển. Thờ i điểm va cha ̣m xe mô tô BKS 36H5-0654 có hướng chuyển động gần vuông góc , từ phải qua trái so vớ i hướ ng chuyển đô ̣ng xe mô tô BKS 29H3-3540. Hậu quả anh Lê Doãn T ngồi phia

́ sau bi ̣ nga xuỗ

́ng đườ ng bị thương nă ̣ng vớ i tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 95%.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

- Vết phanh có đặc điểm tỳ xuống mặt đường tạo thành vết màu đen trên mặt đường nhựa, đầu vết hơi mờ về cuối vết càng đậm. Đầu vết vào mép đường có khoảng cách là 1m70, cuối vết vào mép đường nhựa có khoảng cách là 2m50. Vết có kích thước 8m70 x 4cm. Đầu vết cách tâm cột điện số 11/ĐQ/482Eq là 8m60.

- Vết cà (1) có đặc điểm cày xuống mặt đường bê tông (Thuộc phần đường đi vào thôn Đức Thắng) tạo thành vết màu trắng ngà, vết có kích thước 2m70 x 1cm. Đầu vết vào mép đường nhựa có khoảng cách là 3m65, cuối vết vào mép đường nhựa có khoảng cách là 5m50. Đầu vết cách cuối vết phanh là 2m70. Vết có chiều từ thôn Văn Ba đi thôn Đức Thắng chếch từ trái sang phải.

- Vết cà (2) có đặc điểm chạy gần như song song với vết cà (1). Vết không liên tục, cày xuống mặt đường tạo thành vết màu trắng ngà. Vết có chiều từ thôn Văn Ba sang thôn Đức Thắng, xã Đ chếch từ trái sang phải, vết có kích thước dài 2m50, rộng 1cm. Đầu vết vào mép đường nhựa có khoảng cách là 3m70, cuối vết vào mép đường nhựa có khoảng cách là 5m30. Đầu vết cà (2) cách đầu vết cà (1) là 4cm.

- Từ tâm ngã rẽ vào thôn Văn Ba đến đầu vết phanh là 7m90, đến cuối vết phanh là 2m80.

Ngày 31/01/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn đã trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Thanh Hóa giám định hệ thống dấu vết để lại trên các phương tiện là xe mô tô BKS 29H3-3540 và xe mô tô BKS 36H5-0654.

Tại Bản kết luận giám định số 834/PC09 ngày 26/02/2020 của Phòng PC09 Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là mặt trên ngoài cần đi số, mặt trên ngoài phần trước giá bảo hiểm bên trái lốc máy, mặt ngoài trước ốp bên trái lốc máy xe mô tô BKS 36H5-0654 (Ảnh 4,5,6) với mặt và má phải lốp trước cách đầu hàng chữ số “33L” ngược chiều chuyển động tiến 2,5cm xe mô tô BKS 29H3-3540 (Ảnh 18,19);

- Tại thời điểm va chạm xe mô tô BKS 36H5-0654 có hướng chuyển động gần vuông góc, từ phải qua trái so với hướng chuyển động xe mô tô BKS 29H3-3540;

- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải hướng xã Đ đi xã Đông Phú, huyện S, trong khu vực ngã tư nơi giao nhau giữa đường thôn Văn Ba đi thôn Đức Thắng, xã Đ với đường xã Đông Phú đi xã Đ, huyện S. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của 02 xe mô tô tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Ngày 14/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 51/CSĐT trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định pháp y về thương tích của anh Lê Doãn T. Tại bản kết luận giám định số 338/2020/TTPY ngày 27/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Lê Doãn T là 95%.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS 36H5- 0654 quá trình điều tra xác định là xe của anh Lê Doãn L nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn đã trả lại chiếc xe cho anh L. Đối với chiếc xe mô tô BKS 29H3-3540 quá trình điều tra xác định là xe của Lâm Bá G nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn đã trả lại chiếc xe cho G.

Về bồi thường dân sự: Đa ̣i diê ̣n gia đình anh T yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 309.770.372 đồng. Sau khi sự việc xảy ra, Lê Bá G đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Lê Doãn T số tiền là 51.000.000đồng. Đa ̣i diê ̣n gia đình anh T yêu cầu G phải bồi thường số tiền còn lại.

Anh Lê Doãn L do thương tích không lớn nên anh L từ chối giám định tổn hại sức khỏe và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Bản án số 20/2020/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Các Điều 585, 590 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Bá G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Bá G 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về phần dân sự với tổng số tiền bị cáo bồi thường là 150.000.000 đồng, trừ đi 51.000.000 đồng (bị cáo đã bồi thường), số tiền còn lại 99.000.000 đồng, đến ngày 30/8/2020 bị cáo bồi thường tiếp 30.000.000 đồng, còn 69.000.000 đồng bị cáo bồi thường trong vòng 06 tháng, tính từ tháng 9/2020. Ngoài ra, đại điện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu gì khác về phần dân sự

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm trả, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/8/2020, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Lâm Bá G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Vào khoảng 14 giờ ngày 26/01/2020, Lâm Bá G điều khiển xe mô tô BKS 29H3-3540 đi chúc Tết, khi đi đến gần ngã tư thôn Đức Thắng, xã Đ, huyện S, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện phía trước cách khoảng 08m có một xe mô tô BKS 36H5-0654 do anh Lê Doãn L điều khiển chở phía sau là anh Lê Doãn T (em trai) đang đi qua nga tư giao nhau với đưỡ

̀ ng liên xã , hướ ng từ thôn Văn Ba sang thôn Đứ c Thắng. Khi xe mô tô của anh L đa sang hết ngã

tư đưỡ

̀ ng giao nhau (2/3 phần đường), sát mép đường giao nhau với đường liên xã , lúc này Giáp không nhường đườ ng cho xe đi từ bên phải đến mà vẫn điều khiển xe vượt qua nga tư vã

̀ bấm còi , đạp phanh, đánh lái sang phía bên trái đườ ng theo hướng đi của mình để tránh xe mô tô của anh Lợi nhưng khôn g kịp nên đâm vào xe mô tô do anh L điều khiển. Hậu quả anh Lê Doãn T bị ngã xuống đường bị thương nặng với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 95%.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lâm Bá G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác và mất trật tự an toàn giao thông. Việc đánh giá tính chất, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo như án sơ thẩm đã nhận định là hoàn toàn phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS mới là bị cáo bồi thường tiếp cho gia đình bị hại 30.000.000đ; bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; người đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS mới ở giai đoạn phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Với các tình tiết giảm nhẹ TNHS là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại khi tham gia giao thông đã không đội mũ bảo hiểm; bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn; căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS trên, có nơi cư trú rõ ràng; nên thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận kháng cáo, theo đó giữ nguyên hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo.

. Về bồi thường dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại về phần bồi thường dân sự với tổng số tiền là 150.000.000 đồng, trừ đi 81.000.000 đồng (bị cáo đã bồi thường), còn 69.000.000 đồng bị cáo bồi thường trong vòng 06 tháng, tính từ tháng 9/2020.

. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

. Về án phí:

Án phí dân sự: Bị cáo phải chịu 3.450.000đ án phí dân sự có giá ngạch.

Án phí HSPT: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT; căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của BLTTHS. Điểm d khoản 2 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn về giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào Điểm b khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Bá G 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Lâm Bá G cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 3.450.000đ án phí dân sự có giá ngạch.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ