vanban.org

Bản án 301/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/05/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty tài chính TNHH Một thành viên H - Trương Hồng T"
  • Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 301/2018/DS-ST
Ngày: 31/5/2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Tuấn Việt 2. Bà Lê Thị Kim Liễu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 291/2015/TLST- DS ngày 09 tháng 11 năm 2015, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-DS ngày ngày 12 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2018/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Một thành viên H (Công ty TNHH Một Thành Viên Tài Chính P) (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: Tầng A, B và D Tòa nhà E, số 20 đường G, phường I, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Minh Th, sinh năm: 1981. Đại diện theo ủy quyền, giấy ủy quyền số 2300319425/2015GUQ lập ngày 27/01/2015. Bị đơn: Ông Trương Hồng T, sinh năm: 1965 (vắng mặt) Trú tại: 28C/51 đường D, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Một thành viên H và các lời trình bày của đại diện nguyên đơn ông Đặng Minh Th thể hiện:

Ngày 20/5/2013 ông Trương Hồng T vay tiền của Công ty TNHH Một thành viên tài chính P nay là Công ty tài chính TNHH Một thành viên H, theo hợp đồng tín dụng trả góp số 2300319425, số tiền vay là 5.891.000 đồng. Mục đích vay tiêu dùng. Thời hạn vay là 12 tháng tính kể từ ngày giải ngân. Mỗi tháng trả góp 739.000 đồng, trả vào ngày 06 hàng tháng, trả tháng đầu tiên vào ngày 06/6/2013. Lãi suất 6.58%/tháng. Tổng số tiền phải góp là 8.868.000 đồng. Ông T đã thanh toán được 3.717.000 đồng (trong đó tiền vốn 2.361.470 đồng và lãi 1.355.530 đồng) đến ngày 17/12/2015 thì ngưng luôn đến nay. Hiện ông T còn nợ là 5.151.000 đồng, gồm tiền vốn 3.529.530 đồng, tiền lãi 1.621.470 đồng và phạt do chậm thanh toán 1.800.000 đồng. Tổng cộng 6.951.000 đồng.

Yêu cầu ông T thanh toán ngay một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Công ty chỉ yêu cầu trả đúng số tiền mà hai bên thỏa thuận như công ty đã khởi kiện. Công ty không yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ trên từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Chỉ tính lãi khi bản án có hiệu lực pháp luật và công ty có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu ông T không thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Trương Hồng T:

Tại bản tự khai ông T khai nhận đúng về hợp đồng tín dụng như nguyên đơn trình bày. Ông T cũng thừa nhận đã góp được 3.717.000 đồng và còn nợ như nguyên đơn trình bày. Ông T xin trả góp số tiền còn lại mỗi tháng là 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Các lần hòa giải ông T không đến, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

*Tại phiên Tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 có ông Nguyễn Văn Ngon phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên bị đơn không chấp hành quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, căn cứ vào hợp đồng tín dụng ngày 20/5/2013 ông Trương Hồng T với công ty TNHH Một thành viên tài chính P nay là Công ty tài chính TNHH Một thành viên H, theo hợp đồng tín dụng trả góp số 2300319425, số tiền vay là 5.891.000 đồng. Tổng số tiền ông T phải góp là 8.868.000 đồng, bao gồm tiền vốn là 5.891.000 đồng và lãi là 2.977.000 đồng. Hiện ông T còn nợ là 5.151.000 đồng và tiền lãi phạt 1.800.000 đồng.

Xét về nội dung đây là sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự, sự thỏa thuận này là phù hợp pháp luật. Do đó, căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Một thành viên H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Yêu cầu của Công ty tài chính TNHH Một thành viên H đối với ông Trương Hồng T, căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 2300319425, số tiền vay là 5.891.000 đồng giữa công ty TNHH Một thành viên tài chính P nay là Công ty tài chính TNHH Một thành viên H với ông Trương Hồng T, thì đây là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Điều 3, Điều 90 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Ông T trú tại địa chỉ 28C/51 đường D, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên H có ông Đặng Minh Th đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.

[2.2] Bị đơn ông Trương Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vẫn không đến Tòa để giải quyết. Qua các biên bản tống đạt hợp lệ cho ông T thể hiện ông vẫn cư trú tại số 28C/51 đường D, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-DS ngày 12/4/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2018/QĐST-DS ngày 08/5/2018 . Tuy nhiên ông T vẫn không đến Tòa án.

Căn cứ theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn theo yêu cầu của đại diện nguyên đơn và xét xử bị đơn vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Vụ án được xét xử công khai.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H:

Xét việc ông Trương Hồng T đã ký hợp đồng tín dụng số 2300319425, để vay số tiền là 5.891.000 đồng ngày 20/5/2013 với Công ty TNHH Một thành viên tài chính P nay là Công ty tài chính TNHH Một thành viên H là có thật, phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Ông T là người vay tiền đã nhận đủ số tiền vay và cũng đã thanh toán được số tiền là 3.717.000 đồng đến ngày 17/12/2015 (trả gốc là 2.361.470 đồng và lãi là 1.355.530 đồng). Trong hợp đồng tín dụng trả góp giữa hai bên ký kết thì số tiền thực tế ông T phải trả cho Công ty là 8.868.000 đồng, mỗi tháng phải trả góp 739.000 đồng, góp trong 12 tháng.

Đây là sự thỏa thuận của các đương sự được ghi cụ thể trong hợp đồng, nhưng ông T lại vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng tháng, hiện ông T còn nợ là 6.951.000 đồng nên việc Công ty tài chính TNHH Một thành viên H khởi kiện yêu cầu ông T phải tiếp tục trả hết số tiền cả lãi và gốc là có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Về lãi suất:

Xét hợp đồng tín dụng giữa hai bên có thỏa thuận về lãi suất là 6.58%/tháng. Căn cứ theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Tuy nhiên theo khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do đây là hợp đồng tín dụng, chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng, vì vậy sự thỏa thuận này phù hợp nên được chấp nhận. Do đó, chấp nhận về phần lãi của nguyên đơn. Mặt khác, nguyên đơn đã ngưng tính lãi từ ngày khởi kiện và cũng không tiếp tục tính lãi cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Chỉ yêu cầu tính lãi theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi Công ty có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bị đơn trả hết số nợ. Xét thấy đây là sự tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H về yêu cầu ông Trương Hồng T thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ là 5.151.000 đồng và lãi phạt là 1.800.000 đồng, tổng cộng 6.951.000 đồng. Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, ông T phải chịu toàn bộ án phí là 347.550 đồng. Hoàn lại tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng :

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 3 và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

- Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H.

Buộc ông Trương Hồng T phải trả số tiền 6.951.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi một ngàn đồng) cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H.

Thi hành một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm tiền lãi, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền tính theo qui định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Hồng T phải chịu là 347.550 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy ngàn năm trăm năm mươi đồng).

Nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Home Credit Việt Nam được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 200.000 đồng theo biên lai thu số 000361 ngày 04/11/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ