- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm: 1959; Địa chỉ: Số nhà A, khóm E, phường C, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Bị đơn: Bà Phan Thị Đ, sinh năm…"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 300/2018/DS-PT Ngày: 06-11-2018 "V/v tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Giao.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt.
Ông Bùi Văn Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Th Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- i di n Vi n ki m át nh n d n t nh ồng Tháp: Bà Phạm Th Thanh Hương – Ki m sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2018/TLPT-DS ngày 06 tháng 9 năm 2018 về việc: “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2018/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng tháp b kháng cáo;
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 291/2018/QĐ-PT ngày 20 tháng 9 năm 2018 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số: 291/2018/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm: 1959;
Đ a chỉ: Số nhà A, khóm E, phường C, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
2. B đơn: Bà Phan Th Đ, sinh năm: 1957;
Đ a chỉ: Số nhà D, khóm E, phường C, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Th Bích T1, sinh năm: 1953;
Đ a chỉ: Số nhà G, khóm E, phường C, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Ủy ban nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo pháp luật là ông Võ Thanh T2 – Chức vụ: Chủ t ch Ủy ban nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H – Chức vụ: Phó Chủ t ch Ủy ban nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 14/5/2018).
4. Người kháng cáo: Ông Lê Ngọc T (là nguyên đơn trong vụ án).
NỘI D NG V ÁN
- Nguyên đơn Lê Ngọc T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim H1 tại cấp sơ thẩm trình bày:
Ph n đất của ông Lê Ngọc T đang quản lý, sử dụng thu c thửa 342, tờ bản đồ số 6, diện tích 94,9m2, loại đất ở đô th , tọa lạc tại khóm E, phường C, thành phố S, có nguồn gốc trước đây là của ông Lê Văn H2, là anh ru t của ông T, tặng cho ông T vào năm 2005, diện tích tặng cho là 145m2, thửa 295, tờ bản đồ 6, nhưng đến ngày 05/06/2013 hai bên mới tiến hành thủ tục sang tên. Ngày 10/7/2013 ông Lê Ngọc T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết t t giấy CNQSDĐ). Quá trình sử dụng đất, ông T tách thửa chuy n nhượng cho nhiều người, còn lại 35,4m2 ông T xin hợp thửa với thửa 171 diện tích 59,5m2 nên ngày 11/08/2016 ông Lê Ngọc T được cấp đổi lại thành thửa 342, tờ bản đồ 6, diện tích 94,9m2.
Tiếp giáp với đất của ông T là ph n đất thửa 236 của bà Phan Th Đ nhận chuy n nhượng của ông Phan Ngọc T3 vào năm 2008. Trong quá trình sử dụng, ranh giới hai bên đều có làm hàng rào lưới B40 riêng. Khi làm hàng rào, ông T có ch a ra m t khoảng đất trống khoảng 0,4m đến 0,5m. Năm 2015 bà Đ tháo dở hàng rào của bà Đ xây lại 01 hàng rào b ng gạch dài khoảng 4m, cao 1,6m lấn chiếm qua sát hàng rào của ông T ngang phía trước 0,5m, ngang phía sau 0,32m, chiều dài 15,35m, diện tích 6,293m2, do quá trình bà Đ xây hàng rào có che tấm m cao nên bên phía ông T không biết, khoảng 10 ngày sau khi xây xong, ông T phát hiện nên phát sinh tranh chấp cho đến nay.
Tại phiên tòa hôm nay, ông T ủy quyền cho bà H1 chỉ yêu c u xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất ông T và đất bà Đ trong phạm vi ranh giới ông T và bà Đ được cấp giấy CNQSDĐ, cụ th bà H1 yêu c u xác đ nh ranh đất giữa đất ông T với đất bà Đ là đường th ng nối t các mốc b-7-n theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố S (viết t t Chi nhánh VPĐKĐĐ). Trên cơ sở đó, bà Đ phải tháo dỡ, di dời công trình lấn chiếm như: Bức tường rào, sê nô căn nhà bà Đ đ trả lại đất cho ông T. Ông T không đồng ý hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời cho bà Đ.
Đối với ph n đất ông T giáp với đất bà T1 theo ranh cấp giấy CNQSDĐ và ph n đất giáp đất công th hiện theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh VPĐKĐĐ, ông T không có tranh chấp, không yêu c u Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông T không còn yêu c u gì khác.
- ị đơn han Thị trình bày:
Ph n đất bà Đ đang quản lý, sử dụng thu c thửa 236, tờ bản đồ số 06, diện tích 132,7m2, có nguồn gốc của ông Phan Ngọc T3 chuy n nhượng cho bà Đ vào năm 2008. Bà Đ đã được cấp giấy CNQSDĐ vào ngày 27/12/2008, trước khi cấp giấy CNQSDĐ đ a chính có đo đạc và chủ đất c của ông T là ông H2 có ký giáp ranh, vì thời đi m đó đất của ông T vẫn còn của ông H2 đứng tên nên giữa ông H2 và chủ đất c của bà Đ, là ông T3, có xác đ nh ranh với nhau và c m trụ đá th hiện tại các mốc 1-2-3 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh VPĐKĐĐ hiện nay. Sau khi nhận chuy n nhượng, c ng trong năm 2008 bà Đ xây cất căn nhà ở, trước khi cất nhà, c ng có chủ đất c của ông T và bà Đ xác đ nh ranh đất cho bà Đ cất nhà, bên ông T không có tranh chấp gì. Căn nhà của bà Đ c ng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà vào ngày 26/02/2009.
Quá trình sử dụng đất, ph n giáp ranh đất với ông T đã có hàng rào trụ đá của ông T. Năm 2015 bên bà Đ xây hàng rào ngay v trí ranh c , sát với hàng rào trụ đá ranh của ông T. Sau khi bà Đ xây xong, bên ông T đập bỏ trụ đá ranh của ông T c m trước đây. Đến năm 2016 ông T chuy n nhượng m t ph n đất cho bà T1, thì ông T phát sinh tranh chấp ranh đất với bà Đ. Tại Ủy ban nhân dân phường C, sau khi hòa giải bên ông T không tranh chấp nữa. Sau đó, ông T về tiếp tục tiến hành thủ tục chuy n nhượng đất cho bà T1, sau khi chuy n nhượng xong, ông T lại tiếp tục làm đơn tranh chấp với bà Đ. Trong quá trình giải quyết, ông T xây dựng nhà bếp sát bức tường ranh của bà Đ, mặc dù đ a phương không cho phép, nhưng ông T vẫn xây dựng và sau đó tiếp tục gửi đơn tranh chấp đến Tòa án cho đến nay.
Hiện trạng ranh giới 2 thửa đất, có m t hàng rào ranh bên bà Đ xây dựng khoảng 2015 trên cơ sở trụ đá ranh đã được chủ đất c xác đ nh. Còn ông T năm 2017 đã xây dựng bức tường nhà bếp sát hàng rào của bà Đ.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Đ c ng thay đổi ý kiến, chỉ yêu c u xác đ nh ranh giới QSD đất giữa đất ông T và đất bà Đ trong phạm vi ranh giới ông T và bà Đ được cấp giấy CNQSDĐ, cụ th lấy tại v trí bức tường ranh của bà Đ tại các mốc c-2-2a-2b-k theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh VPĐKĐĐ đ làm ranh giới hai bên. Do đó, bà Đ không đồng ý theo yêu c u của ông T. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu c u của ông T thì bà Đ tự tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp, không yêu c u bồi thường.
Đối với ph n đất còn lại của bà Đ giáp với đất bà T1 và ph n đất ngoài phạm vi cấp giấy CNQSDĐ, giáp đất công, bà Đ không tranh chấp, không yêu c u giải quyết.
- Tại biên bản lời khai, người có quyền và ngh a v liên quan bà Nguyễn Thị ch T1 trình bày:
Bà T1 không có yêu c u hay tranh chấp gì với ông T và bà Đ trong vụ kiện tranh chấp ranh đất giữa ông T và bà Đ. Trường hợp giữa bà T1, ông T và bà Đ có phát sinh tranh chấp s yêu c u Tòa án giải quyết b ng vụ kiện khác. Bà T1 yêu c u không tham gia tố tụng trong vụ kiện và không có yêu c u gì khác.
- Người có quyền lợi, ngh a v liên quan Ủy ban nhân dân Thành phố S do ông Nguyễn Văn H là đại diện theo ủy quyền trình bày tại cấp sơ thẩm:
Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Ngọc T thửa 342, tờ bản đồ 06 và bà Phan Th Đ thu c thửa 236, tờ bản đồ 6 là đúng quy đ nh pháp luật. Do đó, đề ngh Tòa án xét xử theo quy đ nh của pháp luật, Ủy ban không có yêu c u gì thêm trong vụ kiện.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2018/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng tháp đã quyết đ nh tuyên xử:
- Bác toàn b yêu c u khởi kiện của ông Lê Ngọc T, ủy quyền cho bà Nguyễn Th Kim H1, về việc yêu c u xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Lê Ngọc T tại thửa 342, tờ bản đồ 6 diện tích 94,9m2 với thửa đất 236, tờ bản đồ 6, diện tích 132,7m2 của bà Phan Th Đ là m t đường th ng nối t các mốc b-7-n theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và trên cơ sở đó, yêu c u bà Phan Th Đ phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng đ trả lại diện tích lấn chiếm 5,2m2.
- Xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Lê Ngọc T tại thửa 342, tờ bản đồ 6, diện tích 94,9m2 với thửa đất 236, tờ bản đồ 6, diện tích 132,7m2 của bà Phan Th Đ là m t đường th ng nối t các mốc c-2-2a-2b-k theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S (có sơ đồ đo đạc kèm theo).
- Trên cơ sở xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất nêu trên, các đương sự có quyền và nghĩa vụ sử dụng đúng ranh giới quyền sử dụng đất đã được bản án của Tòa án xác đ nh theo chiều th ng đứng không gian và lòng đất theo quy đ nh pháp luật và có trách nhiệm di dời tài sản trên đất tranh chấp (nếu có).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Ngọc T n p 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Số tiền tạm ứng án phí ông Lê Ngọc T đã n p theo các biên lai số 13482 ngày 30/03/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố S s được chuy n thành án phí ông T phải n p.
Về chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá:
Ông Lê Ngọc T n p toàn b chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá số tiền 3.167.000 đồng (đã n p xong).
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, quyền yêu c u thi hành án của các đương sự theo luật đ nh.
Ngày 08 tháng 8 năm 2018, nguyên đơn Lê Ngọc T kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đã xét xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Lê Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện và giữ nguyên yêu c u kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp ý kiến về vụ án:
Về tố tụng: T khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, H i đồng xét xử và Thư ký phiên tòa c ng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy đ nh của B luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Về n i dung: Đề ngh H i đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Ngọc T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 30/2018/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng tháp; Đề ngh H i đồng xét xử phúc thẩm xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Lê Ngọc T tại thửa 342 với thửa đất 236 của bà Phan Th Đ là m t đường th ng nối t các mốc c, 2, 2a, 2b đến mốc k theo sơ đồ đo đạc ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S làm ranh với nhau.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát bi u của Ki m sát viên, H i đồng xét xử phúc thẩm nhận đ nh.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
[1] Theo sự có mặt, v ng mặt của đương sự: Các đương sự có mặt tại phiên tòa. Đại diện của Ủy ban nhân dân Thành phố S và bà Nguyễn Th Bích T1 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp triệu tập hợp lệ l n thứ hai đ xét xử trong vụ án này, nhưng cố tình v ng mặt không lý do nên H i đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử v ng mặt bà T1 theo quy đ nh tại Điều 228 của B luật tố tụng dân sự.
[2] Về n i dung vụ án: Xét yêu c u khởi kiện của ông Lê Ngọc T trong vụ án này là yêu c u Tòa án xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất ông T tại thửa số 342, tờ bản đồ 6 diện tích 94,9m2 với thửa đất 236, tờ bản đồ 6 diện tích 132,7m2 của bà Phan Th Đ là m t đường th ng nối t các mốc b-7-n theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố S. Trên cơ sở đó, yêu c u bà Đ phải tháo dỡ di dời tài sản trên đất, bức tường rào, sê nô nhà bà Đ giáp bên đất ông T, đ trả lại diện tích lấn chiếm là 5,2m2 cho ông T sử dụng và ông T không đồng ý bồi thường hay hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời cho bà Đ. Phía bà Đ không đồng ý trả đất theo yêu c u của ông T, vì bà Đ cho r ng không có lấn chiếm diện tích đất trên của ông T.
[3] Ông Lê Ngọc T có sử dụng ph n đất thu c thửa số 342, tờ bản đồ 6 diện tích 94,9m2, đất ở đô th ; Liền kề với thửa đất số 342 của ông T thì bà Phan Th Đ có sử dụng ph n đất thu c thửa số 236, tờ bản đồ 6 diện tích 132,7m2, đất ở đô th và cây lâu năm. Các thửa đất trên tọa lạc tại khóm E, phường C, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
[4] Ph n diện tích đất tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc T với bà Phan Th Đ trong vụ án này là 5,2m2 được th hiện tại các mốc 1, 2, 5, 4 về mốc 1. Số đo, v trí, tứ cận, diện tích của các thửa đất số 342, số 236 và diện tích tranh chấp 5,2m2 trên được xác đ nh theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Đồng Tháp.
[5] Theo n i dung kháng cáo c ng như tại phiên tòa phúc thẩm thì phía nguyên đơn Lê Ngọc T yêu c u bà Phan Th Đ di dời công trình kiến trúc và tài sản trên đất tranh chấp đ trả lại cho ông T diện tích 5,2m2 được th hiện tại các mốc 1, 2, 5, 4 về mốc 1 và ông T yêu c u Tòa án xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất ông T tại thửa số 342 với thửa đất số 236 của bà Đ là m t đường th ng nối t các mốc b-7-n theo sơ đồ đo đạc ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố S, vì phía ông T cho r ng ph n diện tích đất tranh chấp trên là đất thu c quyền sử dụng n m trong thửa đất số 342 của ông T mà bà Đ lấn chiếm đ sử dụng.
[6] Xét qua n i dung kháng cáo c ng như lời trình bày và yêu c u trên của ông T là không có có căn nên không được chấp nhận, bởi l : Trong quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án c ng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay thì phía ông T không có tài liệu hay chứng cứ gì khác đ chứng minh là phía bà Đ đã lấn chiếm diện tích 5,2m2 trên của ông T, mà diện tích 5,2m2 đang tranh chấp trên là n m trong thửa đất số 236, tờ bản đồ số 06 của bà Đ đã nhận chuy n nhượng của ông Phan Ngọc T3 vào năm 2008 và trong diện tích tranh chấp trên thì phía bà Đ đã sử dụng xây dựng ở phía trước m t bức tường hàng rào nhà có chiều cao khoảng 1,55m nối tiếp phía sau là hàng rào trụ đá chạy dài hết đất bà Đ và ở phía trước này trên không gian ngay v trí vách tường của bà Đ th ng lên thì bà Đ c ng đã xây dựng sê nô căn nhà chính của bà Đ dính vào diện tích tranh chấp hiện nay và việc bà Đ xây dựng sê nô nhà này t khi nhận chuy n nhượng đất của ông T3 vào năm 2008 cho đến nay (bà Đ xây dựng nhà trước khi ông T được cấp giấy đối với thửa 342); Đồng thời, bên phía ông T vào năm 2017 có xây dựng vách tường nhà bếp giáp sát hàng rào tường của bà Đ ở phía trước và nối tiếp vách tường nhà bếp là hàng rào xây dựng b ng gạch cao 1,5m và lưới B40 chạy dài hết đất của ông T chạy dài đến giáp với đất bà T1 là trụ đá và việc ông T xây hàng rào trên là xây ngay v trí t các mốc c, 2, 2a, 2b, k (các mốc do bà Đ xác đ nh ranh). Như vậy, ranh giới giữa hai thửa đất của ông T và bà Đ thì mỗi bên đã có xây hàng rào kiên cố làm ranh với nhau và đã được sử dụng ổn đ nh không ai tranh chấp trong lúc hai bên xây dựng hàng rào. Điều đó cho thấy ranh đất giữa đất của ông T với đất của bà Đ mỗi bên đã có vách tường đ làm ranh với nhau. Quá trình sử dụng đất, ông T cho r ng bà Đ sử dụng đất lấn ranh qua đất ông T diện tích 5,2m2, nhưng ông T không có chứng cứ gì chứng minh. Mặt khác, ranh đất bà Đ đã được ông H2 là chủ đất c của ông T và ông T3 là chủ đất c của bà Đ xác đ nh ranh đất trước đây và đã được c m trụ đá tại các mốc c-2-2a-2b-k ngay v trí bà Đ xác đ nh ranh hiện nay. Bên cạnh đó, năm 2017 phía đất ông T thì ông T c ng đã có xây cất nhà bếp b ng tường sát vách tường ranh bên bà Đ và chạy dài theo đất là có hàng rào xây b ng gạch của ông T và ông T đã kéo lưới B40 chạy dài hết đất giáp với trụ đá giáp ranh giữa đất ông T, bà T1 và bà Đ. Như vậy, quá trình sử dụng đất ông T c ng đã xác đ nh ranh đất của ông T với đất bà Đ là ngay v trí các mốc c-2-2a-2b-k (ngay v trí mí vách tường nhà bếp của ông T) đ làm ranh với nhau. Do đó, H i đồng xét xử xét thấy yêu c u khởi kiện của ông T cho r ng bà Đ lấn ranh đối với diện tích 5,2m2 trên của ông T là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[7] T những nhận đ nh và phân tích trên, xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Lê Ngọc T tại thửa 342, tờ bản đồ 6 với thửa đất 236, tờ bản đồ 6 của bà Phan Th Đ là m t đường th ng nối t các mốc c, 2, 2a, 2b đến mốc k theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S làm ranh với nhau.
[8] T những nhận đ nh và phân tích trên, xét yêu c u khởi kiện và yêu c u kháng cáo của ông T là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Đồng thời, giữ nguyên bản án sơ thẩm là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[9] Xét đề ngh của đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp pháp luật nên H i đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Do yêu c u khởi kiện và yêu c u kháng cáo của ông T không được chấp nhận nên ông T phải ch u án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 147 và khoản 1 Điều 148 B luật tố tụng dân sự năm 2015.
[11] Về chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ: Do yêu c u khởi kiện của ông T không được chấp nhận nên ông T phải ch u toàn b tiền chi phí xem xét, thẩm đ nh và đ nh giá là 3.167.000 đồng (ông T đã n p xong).
[12] Các ph n khác của ph n quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật k t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các l trên;
Q YẾT Đ NH
- Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 228, khoản 1 Điều 308, Điều 313 B luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ Ngh quyết số: 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Ngọc T.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2018/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố S, tỉnh Đồng tháp.
3. Không chấp nhận toàn b yêu c u khởi kiện của ông Lê Ngọc T về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất với bà Phan Th Đ.
4. Ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Lê Ngọc T tại thửa 342, tờ bản đồ 6 với thửa đất 236, tờ bản đồ 6 của bà Phan Th Đ được xác đ nh là m t đường th ng nối t các mốc c, 2, 2a, 2b đến mốc k (v trí mốc c là ngay mí vách tường nhà bếp ông T th ng đến mốc k) theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 23/07/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S (có sơ đồ đo đạc kèm theo).
5. Trên cơ sở xác đ nh ranh giới quyền sử dụng đất nêu trên, các đương sự có quyền và nghĩa vụ sử dụng đúng ranh giới quyền sử dụng đất đã được bản án của Tòa án xác đ nh theo chiều th ng đứng trên không gian, mặt đất và lòng đất theo quy đ nh của pháp luật và có trách nhiệm di dời tài sản ra khỏi phạm v đường ranh tranh chấp (nếu có).
6. Về án phí:
- Ông Lê Ngọc T n p 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu tr vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông T đã n p theo các biên lai số 13482 ngày 30/03/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố S, Đồng Tháp (ông T đã n p xong án phí dân sự sơ thẩm).
- Ông Lê Ngọc T phải ch u 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, nhưng được khấu tr vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông T đã n p theo biên lai thu số: 0004736 ngày 08/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (ông T đã n p xong án phí dân sự phúc thẩm).
7. Về chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá: Ông Lê Ngọc T phải ch u toàn b tiền chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá là 3.167.000 đồng (ông T đã n p xong).
8. Các ph n khác của ph n quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật k t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
9. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND thành phố S; - CCTHADS thành phố S; - Phòng KTNV-THA TAND Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Phạm Ngọc Giao |