- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Ph tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” với Anh La Thanh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn với anh La Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số số 73, ngày 26/7/2011 của Ủy ban nhân dân xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Ph và anh La Thanh T không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
HUYỆN PHÚ TÂN
NAM
TỈNH AN GIANG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 01 - 2022 V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tám
2. Ông Huỳnh Văn Sức
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 235/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021, tranh chấp về Hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: ấp Hiệp Th, xã Hiệp X, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh La Thanh T, sinh năm 1979.
Nơi cư trú: ấp Hiệp Th, xã Hiệp X, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(Chị Ph và anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 23/4/2021 bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ph trình bày:
Hôn nhân của chị và anh T được mai mối nhau, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 73, ngày 26/7/2011. Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nguyên nhân do anh T có quan hệ tình cảm với người khác, đến khoảng tháng 9 năm 2020 anh T bỏ đi, vợ chồng chính thức ly thân đến nay, mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn với anh La Thanh T. Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung tên La Văn L sinh ngày 04/6/2008 và La Phước Thiện sinh ngày 07/9/2018, hiện đang sống với chị Ph. Chị Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có ý kiến nào khác.
- Bị đơn anh La Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
- Về nội dung: Hôn nhân của chị Ph và anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị Ph xin ly hôn và nuôi con chung là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T và nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết: anh La Thanh T là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Hiệp Thạnh, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Chị Ph có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Ph và anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: chị Ph yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh, chị mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được điều này phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ph (mẹ anh T); do đó, chị Ph yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: anh, chị có 02 con chung tên La Văn L sinh ngày 04/6/2008 và La Phước Th sinh ngày 07/9/2018, hiện đang sống với chị Ph. Chị Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Xét, từ khi ly thân đến nay, 02 cháu L và Th do chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo 02 cháu phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và cháu Luân (đủ 7 tuổi) có nguyện vọng sống với mẹ nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên giao 02 cháu cho chị Ph tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến thành niên, tự lập được; anh T không phải cấp dưỡng cho con; chị Ph phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để anh T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con; mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, chị Ph không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Ph và anh T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét. [3] Về án phí: Chị Ph phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Anh T không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn với anh La Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số số 73, ngày 26/7/2011 của Ủy ban nhân dân xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Ph và anh La Thanh T không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ph được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung tên La Văn L sinh ngày 04/6/2008 và La Phước Th sinh ngày 07/9/2018 đến thành niên, tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng cho con . Chị Ph phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003944 ngày 17/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Anh La Thanh T không phải chịu án phí. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao Bản án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - UBND xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Bích Tuyền |