vanban.org

Bản án 30/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Hứa Văn C 18 (Mười tám) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 30/3/2026. Giao bị cáo Hứa Văn C cho Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh Ni là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỨA VĂN C- VP QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 30/2026/HSST
Ngày 30 tháng 3 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu và bà Nguyễn Thị Phương Thiệu

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Ni.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30/3/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2026/HSST ngày 04/03/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Hứa Văn C (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1990; tại tØnh N; Nơi cư trú tổ dân phố B, phường T, tØnh Ni; số Căn cước công dân 03709****; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn H vµ bµ Hứa Thị Q; có vợ Nguyễn Hồng Ng và có 04 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Trương Thành T, sinh năm 2001 (đã chết). Nơi ĐKHKTT: Thôn 1, xã Q, tỉnh N;

* Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Thành T:

Ông Trương Văn T, sinh năm 1966 (là bố anh T);

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960 (là mẹ anh T);

Đều có nơi cư trú: Thôn 1, xã Q, tỉnh N;

(Bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho ông Trương Văn T theo văn bản ủy quyền ngày 02/12/2025). Ông T vắng mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Ông Đinh Văn L (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hứa Văn C có giấy phép lái xe ô tô hạng A1, C do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 25/02/2021, có giá trị đến ngày 25/02/2026. Sáng ngày 23/10/2025, C điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu tự hành, biển kiểm soát 29C-*** để chở cây từ vườn ở thôn A, xã Q, tỉnh N đến phường H, tỉnh N. Sau khi cẩu được 03 cây xanh đã đào gốc, tỉa cắt cành, lá để lên thùng xe ô tô, đầu ngọn cây hướng về phía sau, thò ra ngoài thành thùng xe. Cg đỗ xe tại đường liên thôn 1 đi thôn A thuộc địa phận thôn A, xã Q, tỉnh N nhưng không đỗ ô tô sát mép đường bên phải chiều đi mà lấn ra phần giữa đường; trên thùng xe chở cây, ngọn cây có cành lá đua ra phía sau đuôi xe kích thước (03x03)m đã lấn chiếm phần đường bên phải chiều đi của phương tiện đi phía sau cùng chiều với hướng xe ô tô đỗ. Khi đỗ xe ô tô C có bật đèn xi - nhan bên phải nhưng bị cành, lá cây trên thùng xe ô tô che khuất, cũng không có cảnh báo để cho người tham gia giao thông đi từ phía sau đến xe ô tô biết. Do vậy, khoảng 07 giờ cùng ngày, khi anh Trương Thành T điều khiền xe mô tô biển kiểm soát 35N1-**** đi đến từ phía sau vị trí xe ô tô đỗ thì xe mô tô do anh Trung điều khiển đã xô vào phía sau bên trái xe ô biển kiểm soát 29C-****, tay lái bên trái của xe mô tô mắc, giắt vào gờ cạnh đèn xi - nhan phía sau bên trái xe ô tô, anh T ngã xuống mặt đường. Hậu quả: anh T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, nhưng đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ của Hứa Văn C 01 xe ô tô tải có cần cẩu biển kiểm soát 29C-***, cùng giấy tờ có liên quan; thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 35N1-***, để tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thu thập dấu vết của vụ tai nạn giao thông; đồng thời ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình xác định nguyên nhân tử vong của anh Trương Thành T.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1598/KL-KTHS ngày 14/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận: Nguyên nhân chết của Trương Thành T: Chấn thương ngực hở.

Tại Bản kết luận độc chất số 124/KLGĐĐC-TTPY ngày 03/11/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh N, kết luận: “Nồng độ cồn trong máu tử thi Trương Thành T là C = 0,00mg/l”.

Tại Bản kết luận độc chất số 125/KLGĐĐC-TTPY ngày 03/11/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình, kết luận:“Không tìm thấy chất ma túy trong máu tử thi Trương Thành T”.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-KV3 ngày 03/03/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N đã truy tố Hứa Văn C ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3

- N để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn Chương từ 18 tháng đến 21 tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hứa Văn C cho Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Hứa Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo rất hối hận và đã bồi thường cho gia đình bị hại 90.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Ông Trương Văn T là người đại diện hợp pháp của người bị hại và cũng là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại trong quá trình điều tra trình bày: Ông là bố của Trương Thành T, buổi sáng ngày 23/10/2025 anh Trương Thành T bị tai nạn giao thông, tử vong trên đường đi cấp cứu; xác nhận, đã thỏa thuận và nhận 90.000.000 đồng tiền do bị cáo bồi thường; không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì về vấn đề trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Ni, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Hứa Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi và các dấu vết của vụ tai nạn, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 23/10/2025, tại đường liên thôn 1 đi thôn Anh thuộc địa phận thôn Anh, xã Q, tỉnh N; bị cáo Hứa Văn C có hành vi đỗ xe ô tô tải có cần cẩu tự hành biển kiểm soát 29C-**** không đúng quy định, không đỗ sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình, vi phạm điểm b, khoản 3 và khoản 5, Điều 18, Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ nên đã làm ảnh hưởng, cản trở phần đường đi của xe mô tô biển kiểm soát 35N1-*** do anh Trương Trung T điều khiển đi phía sau cùng chiều, gây tai nạn, làm anh Trung tử vong, xe mô tô tô bị hư hỏng.

Bộ luật Hình sự quy định:

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, Làm chết người;

………

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

. Hành vi của bị cáo Hứa Văn C đã nêu trên là phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm vào quy định của Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.

. Tai nạn giao thông đang là một vấn nạn nguy hiểm, diễn biến phức tạp mà Nhà nước và xã hội đã và đang đề ra nhiều giải pháp nhằm làm giảm thiểu tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông không những gây thiệt hại về vật chất mà còn gây thiệt hại lớn đến tinh thần cho gia đình người bị hại. Vì tai nạn giao thông mà nhiều gia đình bố mẹ mất con, vợ mất chồng, con cái mồ côi, để lại gánh nặng cho gia đình người bị hại nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. B¶n th©n bÞ c¸o lµ ng êi có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật, đã được đào tạo cơ bản, lẽ ra khi đỗ xe phải có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết khi ra vào vị trí đỗ xe, đỗ sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình và không làm ảnh hưởng đến các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, nh ng v× chñ quan, coi thường Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bị cáo đã không thực hiện việc trên, ®· g©y ra vô tai n¹n giao th«ng lµm anh Trương Thành T tử vong. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hứa Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại theo thoả thuận cho gia đình người bị hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương; bị hại có một phần lỗi và người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: Không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại một lần theo thỏa thuận cho gia đình người bị hại số tiền 90.000.000 đồng. Ông Trương Văn T và bà Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì về vấn đề trách nhiệm dân sự. Vì vậy, vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29C-*** và giấy tờ liên quan, là tài sản hợp pháp của Hứa Văn C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại tài sản trên cho Hứa Văn C. C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì khác.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35N1-**** là tài sản của anh Trương Thành T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại cho ông Trương Văn T là người đại diện hợp pháp của người bị hại và cũng là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, là phù hợp.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, C số 3701*** do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 25/02/2021 mang tên Hứa Văn C là một trang tài liệu lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Do không cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo, nên khi bản án có hiệu lực pháp luật và bị cáo có yêu cầu thì Tòa án xẽ trả lại giấy phép lái xe nêu trên cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hứa Văn C 18 (Mười tám) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 30/3/2026.

Giao bị cáo Hứa Văn C cho Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh Ni là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Hứa Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Về Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ