- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn L, phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:30/2026/HS-ST Ngày: 28-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hoa Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Mùi và ông Vũ Lương Trung Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Na- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Đoàn Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27 tháng 9 năm 1983, tại tỉnh Hưng Yên; số định danh cá nhân/CCCD: 015083….; nơi ĐKNK thường trú: Thôn Đ, xã V, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Xuân L1 và con bà Trần Thị T; có vợ là Hoàng Hồng V và có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2013);
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/10/2025, tạm giam từ ngày 15/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh L. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn L đang trong thời gian điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế dạng Methadone theo Quyết định tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 237/QĐ-UBND ngày 13/12/2022 của UBND thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái (cũ) tại Khoa tư vấn và điều trị nghiện chất-Trung tâm y tế huyện V cũ (nay là K tư vấn và điều trị nghiện chất- Trung tâm y tế K). Thời gian điều trị từ ngày 30/12/2022. Khoảng 10 giờ ngày 05/10/2025, Lưu đi một mình đi đến khu vực đập tràn thôn S, xã P, tỉnh Lào Cai tìm mua Heroine để sử dụng, tại đây bị cáo L đã gặp, trao đổi với một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ và mua được của người này 01 gói Heroine được gói bằng giấy nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo L mang về nhà rồi vào nhà vệ sinh lấy số ma túy mua được để trên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa hơ phía dưới tờ giấy bạc để tạo khói và hít khói sử dụng hết, sau đó các vật dụng giấy bạc, giấy gói nilon, bật lửa bị cáo mang đến cầu treo thôn Đ vứt xuống suối.
Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 09/10/2025, Công an xã V, tỉnh Lào Cai báo gọi và tiến hành xét nghiệm ma túy cho kết quả Đoàn Văn L dương tính với chất ma túy. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đoàn Văn L.
Tại Kết luận giám định số 2585/KL-KTHS ngày 13/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu giữ của Đoàn Văn L, sinh năm 1983 thu ngày 09/10/2025 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine, Methamphetamine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể con người.
Cáo trạng số: 51/CT-VKS-KV4 ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai, truy tố Đoàn Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (BLHS);
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị bổ sung tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của BLHS do tại phiên tòa gia đình bị cáo giao nộp giấy xác nhận bố đẻ của bị cáo được tặng thường Huân chương kháng chiến hạng 3. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn L từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đoàn Văn L nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng xin HĐXX cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn L xác nhận bản thân đang điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế dạng Methadone tại Khoa tư vấn và điều trị nghiện chất
- Trung tâm y tế khu vực Văn Chấn theo quy định của Luật phòng chống ma túy. Tuy nhiên, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 05/10/2025, Đoàn Văn L đã mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Tại Kết luận giám định thể hiện trong mẫu nước tiểu thu giữ của Đoàn Văn L, SN 1983, thu giữ ngày 09/10/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine, Methamphetamine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể con người. Đoàn Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý theo pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo Đoàn Văn L đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của luật Phòng, chống ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quy định của Đảng và Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù nhận thức rõ tính nguy hiểm và hậu quả pháp lý của hành vi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình thể hiện “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo chưa phạm tội lần nào, nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a BLHS (thuộc trường hợp ít nghiêm trọng), thuộc trường hợp “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, tại phiên tòa gia đình bị cáo giao nộp tài liệu chứng minh bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS được xem xét áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người sử dụng trái phép chất ma túy cho thấy là người có nhân thân chưa tốt.
Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo, để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cai nghiện, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm Ma túy. Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật được HĐXX chấp nhận.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án: Không đặt ra việc xử lý vật chứng bởi dụng cụ sử dụng ma túy (bật lửa, mảnh giấy bạc, giấy gói nilon) mà bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi sử dụng xong bị cáo đã vứt bỏ, cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về vấn đề khác:
Đoàn Văn L khai về nguồn gốc số ma túy có để sử dụng, bị cáo đã mua tại khu vực đập tràn thôn S, xã P, tỉnh Lào Cai của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 09/10/2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đoàn Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Đoàn Văn L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 4, tỉnh Lào Cai; - Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Lào Cai; - Phòng HS Nghiệp vụ, CA tỉnh Lào Cai - Phòng THADS khu vực 4, tỉnh Lào Cai; - Trại tạm giam số 2, CA tỉnh Lào Cai; - Thi hành án hình sự; - UBND xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai (TB); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Hoa Quỳnh |