vanban.org

Bản án 30/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 17/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2026. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Kim T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim Tòng - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/HS-ST
Ngày 17/8/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Chính.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Vũ Long; bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17/8 2026, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh, kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an tỉnh H, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2026/TLST-HS ngày 31/7/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐXXST-HS ngày 04/8/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Kim T; sinh ngày 06/02/1996; nơi sinh: xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Căn cước công dân: 042096004937 cấp ngày 10/5/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Kim T1 (Đã chết) và bà Từ Thị C, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/10/2025 bị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng theo Quyết định số 02/2025/QĐ-TA, đến ngày 09/6/2026 tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 230/QĐ-CSCN của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hà Tĩnh; bị bắt tạm giam từ ngày 09/6/2026, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Đức H; sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn V, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ; địa chỉ: Số D N, P. S N, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Thành L; sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Tú T2; sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn E, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Đồng chí Ngô Văn H1, đồng chí Nguyễn Tiến H2 và đồng chí Nguyễn Xuân S - Cán bộ dẫn giải, tham gia hố trợ phiên toà; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện công tác quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn, ngày 18/8/2025, Công an xã H, tỉnh Hà Tĩnh tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Kim T, sinh năm 1996, trú tại thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Kết quả T dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Qua làm việc, T khai nhận ngày 17/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy, biết Nguyễn Đức H, sinh năm 1998, trú tại thôn V, xã H, tỉnh Hà Tĩnh có bán ma túy nên T đã sử dụng tài khoản Messenger “Nguyễn Kim T” của T gọi qua tài khoản Messenger “Nguyễn Đức H” của H, hỏi mua 1.000.000đ ma túy. H trả lời với T: Một triệu đồng thì được 08 viên, rồi gửi mã QR số tài khoản 99ZP25191M13461830 Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (BV B1) mang tên Nguyễn Thị Tú T2, sinh năm 2001, trú tại thôn E, xã H, tỉnh Hà Tĩnh, là tài khoản của em gái H nhưng H là người sử dụng cho T qua tin nhắn Messenger, để T chuyển tiền trước. Tòng chuyển 1.000.000đ qua số tài khoản trên rồi chụp ảnh màn hình chuyển tiền thành công gửi lại cho H. Khoảng 10 phút sau, H sử dụng tài khoản M gọi cho T chỉ vị trí để ma túy tại cột bê tông đối diện cây xăng H3 ơ thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Tòng theo chỉ dẫn của H đến lấy gói được quấn bằng băng keo màu đen, bên trong có 08 viên, đem đi đến khu vực nghĩa trang sử dụng hết.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì bạn của T là Nguyễn Thành L, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã H, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng tài khoản Messenger “Luân N”, gọi điện đến tài khoản Messenger của T nhờ mua giúp 500.000đ ma túy để sử dụng, T đồng ý. T tiếp tục sử dụng tài khoản M gọi điện cho H và hỏi mua 500.000đ ma túy. H đồng ý bán cho T 04 viên, đồng thời yêu cầu T chuyển tiền trước và hẹn đến cây xăng H3 để lấy ma túy. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô đến nhà T ở thôn P, xã H, T bảo L chở T ra cây xăng H3 để lấy ma túy. Khi đến cây xăng, T chuyển tin nhắn mã QR số tài khoản của em gái H sang cho L qua tài khoản Facebook “Nguyễn L” để Luân chuyển tiền mua ma túy. Sau khi Luân chuyển 500.000đ qua số tài khoản trên, T sử dụng điện thoại của T chụp ảnh màn hình điện thoại của L đã chuyển thành công, rồi gửi qua M cho H. Một lúc sau, H đi từ phía Công ty H4 ra cây xăng đưa cho T 04 viên ma túy được bỏ trong túi ni lông, bên ngoài cuốn băng keo màu đen. T nhận gói ma túy từ H, rồi nói L điều khiển xe mô tô chở T về nhà. Trên đường về, T đưa gói ma túy cho L. Khi về đến nhà T, L rủ T cùng đi sử dụng ma túy cùng nhưng T không sử dụng mà vào nhà đi ngủ, Nguyễn Thành L đi về nhà mình, lấy gói ma túy mới mua ra thấy có 04 viên ma túy bên trong, sau đó L đi bộ ra khu vực đồi chè thôn T, xã H sử dụng hết. Điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy đã làm mất, khôn thu hồi được.

Đến ngày 22/8/2025, H đến Công an xã H đầu thú, khai nhận về hành vi bán ma túy cho T vào ngày 17/8/2025. Đồng thời, H tự thú về việc đang cất dấu 20 viên ma túy hồng phiến ở bồn trồng cây xanh tại sân của Công ty H4 (nơi H làm việc) ở thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức H, đã bị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tại Bản án số 12/2026/HS-ST ngày 21/4/2026.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 17/8/2025 của Nguyễn Kim T đã bị Công an xã H, tỉnh Hà Tĩnh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 02/2025/QĐ-TA ngày 17/10/2025, với thời gian 24 tháng. Đến ngày 09/6/2026 bị tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 230/QĐ-CSCN của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hà Tĩnh.

- Tại bản Kết luận giám định số 1011/KL-KTHS, ngày 29/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 20 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt không rõ ký hiệu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 2,04 gam.

- Tại Công văn số 497/PC09 ngày 24/11/2025, của Phòng K Công an tỉnh H trả lời: Khối lượng trung bình của 01 (một) viên nén, hình tròn màu hồng trên bề mặt chưa rõ ký hiệu có khối lượng là: 0,102 gam.

Tại Cáo trạng số 42/Ctr-VKS- KV4 ngày 30/7/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Kim T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra và của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định, hành vi tố tụng của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ ngày 17/8/2025, khi được Nguyễn Thành L nhờ mua 500.000đ ma túy, Nguyễn Kim T đã liên hệ với Nguyễn Đức H để mua giúp 04 viên ma túy, có tổng khối lượng 0,408gam, loại Methamphetamine, với giá 500.000đ. Nguyễn Kim T mặc dù không trực tiếp bán ma túy cho Nguyễn Thành L nhưng đã chủ động liên hệ với Nguyễn Đức H để đặt mua ma túy, hướng dẫn Nguyễn Thành Luân chuyển tiền vào tài khoản do H cung cấp, trực tiếp nhận ma túy từ H rồi giao lại cho L. Như vậy, Nguyễn Kim T đã có hành vi hỗ trợ tích cực, tạo điều kiện để Nguyễn Đức H thực hiện việc bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thành L. Do đó, Nguyễn Kim T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đồng phạm giúp sức trong việc bán trái phép 0,408 gam Methamphetamine cho Nguyễn Thành L, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. (Bản án số 12/2026/HS-ST ngày 21/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”).

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Kim T thành khẩn khai báo. Bị cáo đã tự nguyện khai nhận về hành vi mua giúp ma túy cho Nguyễn Thành L trước khi cơ quan chức năng phát hiện nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố là ông Kim T1 được chứng nhận đã từng chiến đấu tại Chiến trường T trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và được tặng Kỷ niệm chương của Quân khu T3, là thương binh hạng ¼ và là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của bị cáo: Hành vi mua bán ma túy là rất nguy hiểm cho xã hội; bị cáo giữ vai trò đồng phạm giúp sức; có nhân thân xấu, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo Nguyễn Kim T giữ vai trò đồng phạm giúp sức, không thu lợi bất chính, không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản nên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng; tội danh, mức hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật về mức án là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 17, Điều 38, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2026.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Kim T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về phần trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ