- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Nguyễn Đình H - giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Võ Nguyễn Đình H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/03/2026.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2026/HS-ST Ngày: 11-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Chinh: Giáo viên Trường tiểu học Pró, xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng;
2. Ông Lê Văn Hiển: Hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Huy; Kiểm sát viên.
Ngày 11/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 11/2026/HSST ngày 16/01/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2026/QĐXXST-HS ngày 13/02/2026 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 01/TB-TA ngày 23/02/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Nguyễn Đình H, giới tính: nam; sinh năm 2002 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; cha: Võ Đình H1; mẹ: Nguyễn Thị H2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Võ Thị Ngọc C, sinh năm 1997- Luật sư Công ty L1; Địa chỉ: A T, phường X -Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị hại: Cháu Nguyễn Lương Thùy U, sinh ngày 28/01/2011; nơi thường trú: Thôn M, xã T, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện tại: Số C N, phường L- Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lương Thị L, sinh năm 1987; nơi thường trú: Thôn M, xã T, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện tại: Số C N, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng (mẹ ruột bị hại). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 19/7/2025, Võ Nguyễn Đình H quen biết qua mạng xã hội Facebook với cháu Nguyễn Lương Thùy U, sinh ngày 28/01/2011, hiện ở: số C N, Phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cả hai thường xuyên nói chuyện qua lại và phát sinh tình cảm. Đến khoảng 07 giờ ngày 24/7/2025, H điều khiển xe môtô nhân hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 49D1-475.51 lên đến nhà cháu U đang ở chở cháu U đi chơi chạy theo hướng xã H. Sau đó, H chở U đến Khách sạn Q thuộc địa phận Thôn T, xã H, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến nơi. H để xe môtô vào khu vực bãi xe của Khách sạn đi đến phòng lễ tân gặp bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1963 ở Thôn S, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng là nhân viên khách sạn Q hỏi thuê 01 phòng với giá 300.000 đồng. Sau khi. H thanh toán tiền xong, bà V dưa cho H chia khoá phòng số 303. H cùng U1 đi thang máy lên phòng 303. Khi vào trong phòng, U ngồi phía trên đầu giường. H cởi bỏ áo khoác ra và dùng tay vòng qua phía trước người Uyên và để U năm ngữa xuống giường, U biết H có ý định quan hệ tình dục nhưng nằm im. H nằm nghiêng bên phải U dùng miệng hôn vào cổ và dùng tay sờ vào vũ của U được một lúc thì H dùng tay cởi quần dài và quần lót ra khỏi chân của U và hôn vào âm đạo của cháu U. Sau đó. H quỳ hai gối trên giường bên trong hai đùi của U, H tự cởi quần ra. H dùng tay phải cầm dương vật đã cương cứng dưa vào bên trong âm đạo của U đề quan hệ tình dục dược khoảng 60 phút thi U nói đau và H không tiếp tục quan hệ tình dục rút dương vật ra khỏi âm đạo của U. Sau khi quan hệ tình dục xong. H đi vào phòng về sinh mặc quần áo và đi ra ngoài mua thuốc tránh thai khẩn cấp cho U uống và mua cơm mang về phòng 303 cùng nhau ăn. Trong khi H ra ngoài mua cơm thì bả Lương Thị L là mẹ ruột của U gọi cho U thì U nói với bà L dang ở trong Khách sạn Q với H do lo sợ mẹ la nên U nói H chở U về nhà. Sau khi về nhà thì gặp bà Lương Thị L, bà L gọi điện cho ba mẹ ruột của H để nói chuyện và trình báo Công an xã H về toàn bộ sự việc xảy ra. Ngoài lần quan hệ tình dục trên thì H và cháu U không thực hiện quan hệ tình dục nào khác.
Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục của trẻ em số 41/KLTDTE-PYLD ngày 30/7/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Tại thời điểm giám định màng trinh của Nguyễn Lương Thùy U rách cũ vị trí 2 giờ, 4 giờ, 7 giờ, 8 giờ. Âm hộ có vết xước mới vị trí 6 giờ.
Tại thời điểm giám định không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo của cháu Nguyễn Lương Thủy U2.
Tại thời điểm giám định cháu Nguyễn Lương Thùy U không bị nhiễm HIV, không có thai.
Cáo trạng số 56/CT-VKSKV2 ngày 14/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng truy tố Võ Nguyễn Đình H về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Đình H phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Võ Nguyễn Đình H từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 vỏ thuốc tránh thai đã qua sử dụng ghi thông tin Mifestad 10 Mifepristone 10mg Công ty TNHH L2- chi nhánh 1.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại Bản cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng quy kết. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Luật sư bà Võ Thị Ngọc C đồng ý với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố, Luật sư đề nghị áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra đã có sự ăn năn hối cải thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội lần đầu và chưa có tiền án, tiền sự nên đề nghị Tòa án áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc phạm tội xuất phát từ tình cảm hai bên nên mong HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức mức án thấp nhất, cho bị cáo được hưởng án treo. Về bồi thường thiệt hại bị cáo đã bồi thường số tiền 50.000.000đ và bị hại cũng như đại diện bị hại đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường thêm nên không có ý kiến gì thêm.
Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, không thắc mắc khiếu nại nội dung vụ án, Bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, kết luận giám định, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có mối quan hệ quen biết nhau từ trước qua mạng xã hội Facebook nên vào ngày 24/7/2025 tại phòng số 303 Khách sạn Q thuộc địa phận Thôn T, xã H, tỉnh Lâm Đồng. Võ Nguyễn Đình H, sinh ngày 11/12/2002 (đủ 18 tuổi trở lên) đã có hành vi giao cấu với cháu Nguyễn Lương Thùy U, sinh ngày 28/01/2011(tại thời điểm bị xâm hại có độ tuổi là 14 tuổi 05 tháng 26 ngày).
Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Nguyễn Đình H phạm vào tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá tính chất vụ án:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do muốn thỏa mãn dục vọng của bản thân bị cáo đã lợi dụng sự non nớt về nhận thức của bị hại, bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với bị hại khi bị hại mới 14 tuổi 05 tháng 26 ngày, chưa đủ 16 tuổi. Mặc dù việc giao cấu có sự đồng thuận của cả hai nhưng hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của bị hại, ảnh hưởng đến nhân phẩm, danh dự của bị hại. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi bị cáo gây ra nhằm đảm bảo đấu tranh và phòng ngừa chung tội phạm.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; nên cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.
Về quyết định hình phạt: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung là phù hợp với Điều 65 của Bộ luật hình sự. Ý kiến của Người bào chữa và Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo Võ Nguyễn Đình H được hưởng án treo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 vỏ vỉ thuốc tránh thai đã qua sử dụng ghi thông tin Mifestad 10 Mifepristone 10mg Công ty TNHH L2- chi nhánh 1 là tang vật vụ án có giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 1 USB nhãn hiệu Kington dung lượng 2GB (đã qua sử dụng) tạm giữ của bà Nguyễn Thị V (nhân viên khách sạn Q). Đây là vật chứng liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Võ Nguyễn Đình H đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Lương Thùy U số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại bà Lương Thị L đã nhận đủ số tiền trên và làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 145 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Đình H phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt Võ Nguyễn Đình H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/03/2026.
Giao bị cáo Võ Nguyễn Đình H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 vỏ vỉ thuốc tránh thai đã qua sử dụng ghi thông tin Mifestad 10 Mifepristone 10mg Công ty TNHH L2- chi nhánh A (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Lâm Đồng).
- Lưu vào hồ sơ giải quyết vụ án đối với 1 USB nhãn hiệu Kington dung lượng 2GB (đã qua sử dụng) tạm giữ của bà Nguyễn Thị V (Theo quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số B1354/QĐVPCQCSĐT ngày 27/08/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Võ Nguyễn Đình H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật (đã giải thích chế định án treo).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 2–Lâm Đồng; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - Cơ quan THAHS tỉnh Lâm Đồng; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2–Lâm Đồng; - Bị cáo; bị hại; người bào chữa bị cáo; - Người đại diện hợp pháp bị hại; - Lưu HS, AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoài |