- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn X"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2026/HNGĐ-ST Ngày 21/4/2026 “V/v: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và ông Nguyễn Sỹ Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 35/2026/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2026 về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026; quyết định hoãn phiên toà số: 20/2026/QĐST – HNGĐ ngày 31/03/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1980; CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn B, xã T, TP Đà Nẵng. – có đơn xin giải quyết vắng mặt;
Bị đơn: ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt tại phiên toà;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T trình bày: Căn Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 74/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng. Trong quyết định thể hiện con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 26/02/2010 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 giao cho ông Nguyễn Văn X là người trực tiếp trông nom, giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Trong thời gian trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu: Đối với cháu P hiện nay ông X đã gửi về ông bà nội ở Buôn Ma Thuật nuôi dưỡng, học hành tại đó nên bà T không có ý kiến gì. Còn đối với cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 thì bà T được người hàng xóm, anh em họ hàng bên phía ông X và các thầy cô giáo nơi cháu T1 đang học có thông báo cho bà T biết là ông Nguyễn Văn X không quan tâm, chăm sóc cháu, không cho cháu đến trường để học hành dẫn tới cháu T1 hiện nay vẫn phải học lớp 01 (02 năm lớp 1), bà T cũng đã liên hệ với ông X nói về sự việc này nhưng ông X không nghe, ông X nói việc nuôi dưỡng cháu như thế nào là do ông X, không liên quan gì đến bà T. Do ông X bỏ bê, không quan tâm chăm sóc cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 nên bà T làm đơn xin là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, trông nom cháu T1 cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi).
*Bị đơn ông Nguyễn Văn X trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Văn X các thủ tục tố tụng nhưng bị đơn không hợp tác không lên Toà án để giải quyết theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm túc quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia tố tụng nên đề nghị giải quyết theo quy định.
Về tố tụng: Đảm bảo đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T.
Giao cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 cho bà Bùi Thị Thanh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện xin chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện Toà án đã triệu tập các đương sự trong vụ án lên Tòa án giải quyết vụ án, tiến hành thủ tục tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải giữa các đương sự; bị đơn ông Nguyễn Văn X vắng mặt, không hợp tác nên Toà án ban hành quyết định đưa ra xét xử theo đúng thủ tục tố tụng. Phiên tòa, ngày 31/03/2026 phía bị đơn ông Nguyễn Văn X vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án đã ban hành quyết định hoãn phiên Tòa. Phiên Tòa, ngày 21/4/2026 bị đơn ông Nguyễn Văn X vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX vẫn xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn X trú tại thôn Đ, xã Đ, Lâm Đồng. Vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nội dung tranh chấp và quan hệ pháp luật: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 74/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng) thể hiện nội dung về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn P, sinh ngày 26/02/2010 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 cho ông Nguyễn Văn X là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành (đủ18 tuổi). Trong quá trình nuôi dưỡng các con chung ông X không quan tâm chăm sóc cháu T1, không đưa cháu T1 đi học, người thân và nhà Trường đã trực tiếp liên hệ với bà T về sự việc này. Hiện nay cháu T1 đã được bà T đưa về Trường Tiểu học L, xã T, TP Đà Nẵng học tập và nguyện vọng của cháu muốn được ở với bà T. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích cho cháu T1 nên bà T làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Nên vụ án này có quan hệ pháp luật là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung vụ án:
. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 74/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng) thể hiện nội dung về con chung: Giao Nguyễn Văn P, sinh ngày 26/02/2010 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 cho ông Nguyễn Văn X là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
. Xét lời khai của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ thể hiện: Ông Nguyễn Văn X là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Văn P, sinh ngày 26/02/2010 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Trong quá trình nuôi dưỡng ông X không đưa cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 đi học, không quan tâm, chăm sóc cháu. Điều này được thể hiện qua việc cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 không lên được lớp một được thể hiện qua bản xác minh của Trường Tiểu học L1 với lý do: “ Cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 không đi học thường xuyên, nhà trường gọi điện cho ông X nói ông X đưa cháu đi học có khi được, có khi không, Cháu T1 không đủ điều kiện lên lớp”.
Lời khai của người làm chứng, của cháu T1 và biên bản xác minh tại nơi ông X cư trú thể hiện: Ông Nguyễn Văn X thường xuyên đi nhậu, mỗi lần đi nhậu là đưa cháu T1 đi theo và tâm lý của cháu T1 không muốn ở cùng ông Nguyễn Văn X. Hiện cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 đã được bà Bùi Thị Thanh T chuyển về xã T, TP Đ và bà T đã cho cháu đi học tại Trường Tiểu học L, xã T, TP Đà Nẵng từ tháng 02/2026 nhưng ông X không có ý kiến gì về việc này nên HĐXX thấy cần giao cháu T1 cho bà Bùi Thị Thanh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp theo Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Đối với cháu Nguyễn Văn P, sinh ngày 26/02/2010 và tiền cấp dưỡng nuôi con bà T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện Bà Bùi Thị Thanh T giao cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, trông nom cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về án phí DSST: Nguyên đơn tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025; khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 227, Điều 228 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thanh T.
1. Giao cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/9/2018 cho bà Bùi Thị Thanh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành( đủ 18 tuổi).
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con chung mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yều cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Bùi Thị Thanh T tự nguyện chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền bà T đã nộp theo biên lai số 0001517 ngày 21 tháng 01 năm 2026 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 8 – Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa ĐÃ KÝ Phạm Văn Quân |