vanban.org

Bản án 30/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Danh Thị G và anh Sơn Sà P ly hôn. Về con chung: Giao các con chung tên Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020 cho chị Danh Thị G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Sơn Sà P có quyền,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị G ly hôn anh P"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 27-01-2026
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải.

Ông Nguyễn Văn Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Danh Thị G, sinh ngày 01/01/1990.

Nơi cư trú: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: Anh Sơn Sà P, sinh ngày 01/01/1990.

Địa chỉ: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 7 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Danh Thị G trình bày:

Chị Danh Thị G và anh P quen biết và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (cũ) vào ngày 13/7/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng thời gian gần đây giữa hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tính tình vợ chồng thay đổi, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị G và anh P không còn sống chung khoảng hơn 01 năm nay.

Về con chung: Chị G và anh P có ba người con chung tên Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020. Hiện nay, các con chung đang sống chung với chị G.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Danh Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị G yêu cầu được ly hôn với anh Sơn Sà P.

- Về con chung: Chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung tên Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020 đến tuổi thành niên, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 193/TB-TLVA ngày 23 tháng 10 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Sơn Sà P, nhưng anh P không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị G. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh P vắng mặt không có lý do và chị G có yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của anh P trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Chị G và anh P có ba người con chung tên Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020. Hiện nay, các cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N và Sơn Thị Trâm A đang sống chung với chị G, chị G có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N và Sơn Thị Trâm A đến tuổi thành niên và hai cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N có nguyện vọng được sống chung với chị G, cháu Sơn Thị Trâm A từ khi sinh ra đến nay đều do chị G trực tiếp nuôi dưỡng và đang do chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N và Sơn Thị Trâm A cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh P mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Chị G có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Khi chị Danh Thị G khởi kiện thì anh Sơn Sà P; cư trú tại ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ. Chị G có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Sơn Sà P và yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Chị G đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị G nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị G đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ thụ lý đơn khởi kiện của chị Danh Thị G là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Danh Thị G và bị đơn anh Sơn Sà P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Chị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và anh P vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị Danh Thị G và anh Sơn Sà P.

Theo nội dung đơn khởi kiện, chị Danh Thị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung đến tuổi thành niên và yêu cầu anh Sơn Sà P cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị G thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu anh Sơn Sà P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật đến khi các con chung tròn 18 tuổi. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị G, sinh ngày 01/01/1990 và anh Sơn Sà P, sinh ngày 01/01/1990 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 13 tháng 7 năm 2010 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Danh Thị G và anh Sơn Sà P là hợp pháp.

Xét lý do xin ly hôn của chị Danh Thị G, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị G và anh P hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng sống không còn hạnh phúc, chị G và anh P không còn sống chung với nhau thời gian dài và đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị G và anh P trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G.

Về con chung: Chị G và anh P có 03 người con chung tên Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020. Hiện nay, các cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N và Sơn Thị Trâm A đang sống chung với chị G, chị G có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N và Sơn Thị Trâm A đến tuổi thành niên và hai cháu Sơn Thị Tuyết P1, Sơn Thị Trúc N có nguyện vọng được sống chung với chị G, cháu Sơn Thị Trâm A từ khi sinh ra đến nay đều do chị G trực tiếp nuôi dưỡng và đang do chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020 cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, anh Sơn Sà P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh P không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị G.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Danh Thị G là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, chị G phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Danh Thị G và anh Sơn Sà P ly hôn.

2. Về con chung: Giao các con chung tên Sơn Thị Tuyết P1, sinh ngày 23/10/2009, Sơn Thị Trúc N, sinh ngày 26/12/2012 và Sơn Thị Trâm A, sinh ngày 04/5/2020 cho chị Danh Thị G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Sơn Sà P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh P không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị G.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Chị Danh Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006933 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, chị Danh Thị G đã nộp xong án phí.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ