vanban.org

Bản án 30/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn TA - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 30/2025/HSST
Ngày 06 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Lương Hữu

2. Bà Trịnh Thị Kim Oanh

Thư ký Toà án: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST - HS ngày 30 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo.

Họ và tên: Nguyễn Tuấn A, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1994; Tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: TK3, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La: Nay Tổ dân phố 3, phường M, Thị xã M, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị H; Đều cư trú tại: TK3, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La. Nay Tổ dân phố 3, phường M, Thị xã M, tỉnh Sơn La. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền sự: Không. Tiền án: - Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, theo Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 (chưa được xóa án tích).

- Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 07 (Bảy) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (chưa được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vân Hồ từ ngày 22/6/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/6/2024 Nguyễn Tuấn A có hành vi cất giấu trái phép 12,69 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an huyện Vân Hồ phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói được gói bên ngoài bằng 01 lớp băng dính màu đen, bên trong có 02 gói; Gói thứ nhất được gói bên ngoài bằng 02 lớp giấy bạc, tiếp là lớp băng dính màu đen, và lớp cuối cùng là 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng các viên nén màu hồng nghi là ma túy. Gói thứ hai được gói bên ngoài bằng 03 lớp băng dính màu đen, tiếp đến là 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng các viên nén màu hồng nghi là ma túy.

Ngày 22/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ tiến hành bóc mở, niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng đối với 01 gói được gói bên ngoài bằng 01 lớp băng dính màu đen nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Tuấn A; Có khối lượng như sau:

Gói thứ nhất đựng 28 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, có khối lượng là 2,67 gam. Lấy 05 viên có khối lượng 0,48 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A. Còn lại 23 viên có khối lượng là 2,2 gam, ký hiệu A1.

Gói thứ hai đựng 62 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, có khối lượng là 10,02 gam. Lấy 05 viên có khối lượng 0,47 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A. Còn lại 57 viên có khối lượng là 9,54 gam, ký hiệu A3. Mẫu gửi giám định ký hiệu A và A2 được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại bản kết luận giám định số: 1346/ KL – KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu ký hiệu A, A2 gửi giám định là ma túy. Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là A = 0,47 gam, A2 = 0,48 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 12,69 gam, loại Methamphetamine”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng đầu tháng 6/2024 Tuấn A gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ cụ thể, khoảng 25 tuổi, tự giới thiệu tên là Cường N tại khu vực ngã ba đèn xanh, đèn đỏ trước cổng Công an huyện Mộc Châu. Qua nói chuyện Tuấn A biết Cường N có sử dụng ma túy và bán ma túy nên hai người đã lưu số điện thoại và kết bạn Zalo với nhau. Đến sáng ngày 19/6/2024 Tuấn A gọi điện cho Cường N trao đổi về việc mua ma túy hồng phiến. Đến trưa ngày 21/6/2024 Cường N nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Tuấn Avà gửi số tài khoản để Tuấn Achuyển tiền mua ma túy. Khoảng 19 giờ cùng ngày Tuấn Anhắn tin cho Cường N và thống nhất mua của Cường N 1.800.000đ tiền mua ma túy hồng phiến. Cường N đồng ý và gửi số tài khoản mang tên Tráng A Hcho Tuấn Anh, sau đó Tuấn A chuyển vào tài khoản Ngân hàng MB số 6668805111979 chủ tài khoản mang tên Tráng A H số tiền 1.800.000đ cho Cường N. Sau khi nhận được tiền thì Cường N và Tuấn A trao đổi thống nhất để gói hồng phiến tại cột mốc H1/166 Quốc lộ 6 thuộc địa phận bản Lóng Luông, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ. Sau đó Cường N chụp ảnh gửi lại vị trí cất giấu ma túy cho Tuấn Anh. Khi biết được vị trí giấu gói ma túy, khoảng 03 giờ sáng ngày 22/6/2024 Tuấn A rủ bạn gái là Nguyễn Thị H là người cùng chung sống như vợ chồng với Tuấn A tại Tiểu khu 3, Thị trấn M, huyện M đi chơi thì H đồng ý (H cũng không hỏi Tuấn Ađi đâu làm gì). Sau đó Tuấn Avà H đi xe khách đến km 166 Quốc lộ 6 thuộc địa phận bản Lóng Luông, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ thì cả hai xuống xe. Tuấn Ađi bộ đến cột mốc H1/166 Quốc lộ 6 thì phát hiện rồi nhặt 01 gói được cuốn bên ngoài bằng lớp băng dính màu đen, tìm thấy gói ma túy Tuấn A đi đến vị trí của H rồi đưa cho H cầm. Cả hai đứng đợi xe cạnh đường một lúc thì thấy xe taxi BKS 30 – 063.56 do anh Nguyễn Hồng T điều khiển, Tuấn A vẫy xe rồi thuê anh T chở cả hai về Tiểu khu 3, Thị trấn M, huyện M, khi lên xe H để gói đồ tại gác để đồ hàng ghế phía xe ô tô. Anh T điều khiển xe chở Tuấn Avà H về đến khu vực bản H, xã V, huyện V thì bị Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La phát hiện bắt người phạm tội bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT - VKS ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễn Tuấn A về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy;

a) Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1

Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

b) Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS .

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, loại VOS 3.0 vỏ đen trắng đã qua sử dụng kèm sim số 0397400746 của bị cáo.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại ký hiệu A1= 2, gam; A3 =9,54 gam cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở+ Mảnh nilon ban đầu+các mảnh băng dính màu đen; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 que thử ma túy đối với Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Thị H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử thai của Nguyễn Thị H.

c) Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng bị cáo đã nhận. Do hành vi của bị cáo đã rõ, nên bị cáo Nguyễn Tuấn A không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 12,69 gam Methampetamine”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/6/2024 Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La bắt quả tang Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, vắt kiệt nhân lực, tài chính gia đình và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có quy định khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù; Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận việc bị truy tố và bị Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Tuấn A có 02 tiền án:

- Ngày 26 - 01 - 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách là 60 tháng về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999.

- Ngày 13 - 10 - 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 07 (Bảy) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 2 Điều 1994 của Bộ luật hình sự năm 1999 và áp dụng khoản 1, 2 Điều 51; khoản 5 Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 bản án là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự năm thì 02 tiền án trên chưa được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo lại tiếp tục đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Nên hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn A thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Thị H; trú tại Tiểu khu 5, thị trấn Y, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra, xác định H không biết việc Nguyễn Tuấn A trao đổi mua bán ma túy với ai, khi Tuấn Arủ đi chơi thì H đồng ý đi cùng, còn việc đi chơi đâu và lấy đồ gì thì H không biết. Khi Tuấn Ađưa cho gói đồ thì H cầm và H không biết là đồ gì, chỉ đến khi bị Công an kiểm tra thì H mới biết đó là ma túy. Do đó không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị H với vai trò đồng phạm, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ không đặt vấn đề xử lý đối với Nguyễn Thị H là có căn cứ.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Nguyễn Tuấn A khai là mua với 01 người đàn ông, khoảng 25 tuổi, tên Cường N, Tuấn A không rõ hộ, tên, địa chỉ; Cường N sử dụng điện thoại 0982.227.943. Quá trình điều tra, xác định chủ thuê bao số điện thoại 0982.227.943 là của anh Cao Văn V, sinh năm 1987; cư trú tại: Xóm C, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Cơ quan điều tra đã cho bị cáo Nguyễn Tuấn A nhận dạng qua ảnh; Kết quả bị cáo Nguyễn Tuấn A khẳng định anh Cao Văn V không phải là đối tượng Cường N, đồng thời qua lấy lời khai của anh Cao Văn V, anh khai không biết và không được bán ma túy cho Tuấn A, nên không đặt vấn đề xử lý đối với Cao Văn V. Do đó buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ 12,69 gam loại Methamphetamine thu giữ nêu trên.

Đối với chủ tài khoản Ngân hàng MB số 6668805111979 mang tên Tráng A Hmà bị cáo Nguyễn Tuấn A đã chuyển số tiền 1.800.000đ để mua ma túy. Quá trình điều tra xác định Tráng A H, sinh năm 1979, cư trú tại bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La. Ngày 27/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ đã phong tỏa tài khoản số 6668805111979 của Tráng A H, xác định số tiền còn trong tài khoản là 1.160.000đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của Tráng A H; kết quả Tráng A H không có mặt tại địa phương, Hua đi đâu làm gì chính quyền địa phương không biết. Ngày 27/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ đã ra quyết định truy tìm người số 831 đối với Tráng A H nhưng đến nay chưa có kết quả, đồng thời Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ đã cho bị cáo Nguyễn Tuấn A nhận dạng qua ảnh đối tượng Tráng A H; kết quả bị cáo Nguyễn Tuấn A không nhận dạng được Tráng A H và khẳng định không phải là đối tượng Cường N; Nên cơ quan điều tra đã tách hành vi liên quan đến Tráng A H ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau: Do vậy cần hủy lệnh phong tỏa tài khoản số 311/LPT – ĐCSHS – KTMT ngày 27/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đối với số tài khoản 6668805111979 mang tênTráng A H; sinh ngày 05/11/1979; CCCD: 014079003852, cấp ngày 01/5/2021 nơi cấp CTCCSQLHC về TTXH; Điện thoại: 0985826559; Địa chỉ: Bản Lũng Xá, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, mở ngày 17/02/2022 tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Số dư tài khoản hiện tại là 1.160.028 VNĐ.

Vật chứng vụ án: - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại ký hiệu A1= 2, gam; A3 =9,54 gam cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở+ Mảnh nilon ban đầu + các mảnh băng dính màu đen; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 que thử ma túy đối với Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Thị H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử thai của Nguyễn Thị H. Các vật chứng trên là vật bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu V smart, loại VOS 3.0, đã qua sử dụng cũ, thu giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn A, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại trên làm công cụ phương tiện phạm tội (để liên lạc, nhắn tin trong việc trao đổi cách thức mua bán ma túy giữa bị cáo với Cường N); Do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.

Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy: - 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng “ Vật chứng còn lại ký hiệu A1 = 2,2 gam; A3 = 9,54 gam cùng vỏ phong bì niêm ban đầu đã bóc mở + mảnh nilon ban đầu + các mảnh băng dính màu đen; 02 phong bì thư niêm phong bên trong đựng que thử ma túy của Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị H và 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử thai của Nguyễn Thị H.

- Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu V smart, loại VOS 3.0 vỏ màu đen trắng đã qua sử dụng có số IMEL (Khe cắm sim 1) 351726118330989; IMEL (Khe cắm sim 2) 351726118330997, bên trong có 01 số thuê bao: 0397400746, đã qua sử dụng cũ.

Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 28/BBVC – CCTHA ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

- Tuyên hủy lệnh phong tỏa tài khoản số 311/LPT - ĐCSHS - KTMT ngày 27/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đối với số tài khoản 6668805111979, tại Ngân hàng TMCP Q chi nhánh huyện M, tỉnh Sơn La. Số dư tài khoản hiện tại là 1.160.028 VNĐ.

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TA ND Tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND (02);

- Sở Tư pháp,

- Công an (02);

(Đã ký)

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- UBND Phường Mộc Sơn;

- Ngân hàng MB;

- Bi cáo;

Bàn Văn Hoàng

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Lương HữuTrịnh Thị Kim Oanh

Bàn Văn Hoàng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TA ND Tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND (02);

- Sở Tư pháp,

- Công an (02);

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- UBND Phường Mộc Sơn;

Bàn Văn Hoàng

- Ngân hàng MB;

- Bi cáo;

- Lưu hồ sơ; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Lương Hữu Trịnh Thị Kim Oanh

Bàn Văn Hoàng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Lương Hữu Trịnh Thị Kim Oanh

Bàn Văn Hoàng

Cỡ chữ