vanban.org

Bản án 30/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

V i u luật áp d ng tội danh h nh phạt:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Tòng Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Tòng Văn B 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y 07/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng văn B+ĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? V i u luật áp d ng tội danh h nh phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HSST
Ngày 28-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: B Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Quốc v ông Lường Văn Duôi.

- Thư ký phiên toà: B Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên toà: B Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở To án nhân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Tòng Văn B, tên gọi khác: Không; sinh ng y 19 tháng 10 năm 1993 tại xã TC, tỉnh Sơn La (trước l huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La); nơi cư trú: Tiểu khu Nà Cài, xã TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn Bun (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lan (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 43/2014/HSST ngày 19/3/2014 bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay l Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy; Tại bản án số 128/2019/HSST ng y 14/10/2019 bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay l Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 22 (hai mươi hai) tháng tù giam về tội t ng trữ trái phép chất ma túy; bị b t, tạm giữ, tạm giam ngày 07 tháng 4 năm 2025. Có mặt.

2. Tòng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 21/10/1992 tại xã Chiềng M (trước l xã M, huyện S), tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Lét Trạng, xã N (trước l bản Lét Trạng, xã B, huyện TC), tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn Lún (đã chết) và bà Lò Thị Bó, sinh năm 1970; bị cáo có vợ l Lò Thị Thoa, sinh năm 1985 (đã ly hôn) v 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Tại bản án số 05/2024/HSST ng y 09/01/2024 bị Tòa án nhân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (nay l Tòa án nhân dân khu vực 4- Hưng Yên) xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội trộm c p t i sản (chấp h nh xong hình phạt tù ng y 20/3/2025), tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 30/QĐ- TA ngày 30 tháng 12 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh ch nh đưa v o cơ sở cai nghiện b t buộc, thời gian chấp h nh l 20 (hai mươi) tháng; bị b t, tạm giữ, tạm giam ng y 06 tháng 4 năm 2025. Có mặt.

3. Lường Văn Th, tên gọi khác: Không; sinh ng y 26/10/2005 tại xã N (trước l xã B, huyện TC), tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Mỏ, xã N (trước l bản Mỏ, xã B, huyện TC), tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Cút, sinh năm 1985 và bà Lường Thị Xoa, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 127/2023/HSST ng y 08/6/2023 bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay l Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 18 (mười tám) tháng tù giam về tội t ng trữ trái phép chất ma túy (chấp h nh xong hình phạt tù ng y 19/3/2024, tại thời điểm thực hiện h nh vi, bị cáo Lường Văn Th l người dưới 18 tuổi, vì vậy không được coi l có án t ch); bị b t, tạm giữ, tạm giam ng y 06 tháng 4 năm 2025. Có mặt.

4. Bạc Cầm H, tên gọi khác: Không; sinh ng y 05/11/2006 tại xã TC, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Tiểu khu C, xã TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạc Cầm Dũng, sinh năm 1964 và bà Bạc Thị Chiêm, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 153/2023/HSST ng y 08/6/2023 bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay l Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội t ng trữ trái phép chất ma túy (chấp h nh xong hình phạt tù ng y 29/3/2024, tại thời điểm thực hiện h nh vi, bị cáo Bạc Cầm H l người dưới 18 tuổi, vì vậy không được coi l có án t ch); bị b t, tạm giữ, tạm giam ng y 11 tháng 7 năm 2025. Có mặt.

5. Lò Văn K, tên gọi khác: Không; sinh ng y 05/3/2000 tại xã TC, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Tiểu khu N C i, xã TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Duy Quân, sinh năm 1975 v b Lò Thị Dong, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Tại bản án số 178/2022/HSST ngày 23/9/2022 bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay l Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù giam về tội t ng trữ trái phép chất ma túy (chấp h nh xong hình phạt tù ng y 14/12/2023), tiền sự: Không; bị b t, tạm giữ, tạm giam ng y 06 tháng 4 năm 2025. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lò Thị D, sinh năm 1998; nơi cư trú: Tiểu khu N C i, xã TC, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 06/4/2025, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã TC, tổ địa b n Thuận Châu- Công an tỉnh Sơn La đang l m nhiệm vụ tại khu vực Tiểu khu 03, xã TC, tỉnh Sơn La thì nhận được tin báo của ông Lê Xuân Hùng, sinh năm 1964, trú tại Tiểu khu 03, xã TC, tỉnh Sơn La (l chủ nh nghỉ Hùng Ngân) báo về việc một số đối tượng thuê phòng nghỉ số 202, nh nghỉ Hùng Ngân có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng nghỉ. Tổ công tác tiến h nh kiểm tra xác minh phát hiện b t quả tang Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy v thu giữ cùng vật chứng, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th khai Bạc Cầm H bỏ chạy.

Vật chứng thu giữ:

01 (một) gói nilon m u hồng bên trong có chứa 02 (hai) cục bột m u tr ng nghi là heroine và 04 (bốn) viên nén m u hồng nghi l ma túy tổng hợp. (Theo Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th khai l ma túy loại heroine v ma túy tổng hợp).

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, m u v ng, số máy: MG9D3LL/A: số sê-ri: GONDIJZ70D41; số IMEI: 357104911891751, IMEI: 357104911989381. G n the sim số thuê bao: 0326.751.319, đã qua dụng cũ thu giữ của Lò Văn K.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s; kiểu máy: CPH1853. m u đỏ; số EMIE1: 865720046171119; số IMEI2: 865720046171101, g n thẻ sim số thuê bao: 0964.881.0/7, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Tòng Văn T.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, kiểu máy: SM-G610F/DS; m u xanh đen số EMIE1: 355726098436521 IMEI 2: 355727098436529, g n thẻ sim số thuê bao: 0979.586.094, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Lường Văn Th.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, m u v ng, phần lưng bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng cũ của Bạc Cầm H.

01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA: số loại: Ja393 WAVE; số máy JA70E0574467; số khung: RLHJA3938RY824505, m u xám, biển số đăng ký: 26AE-006.42, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Lò Văn K.

Hồi 01 giờ 40 phút ngày 07/4/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến h nh bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng v lấy m u giám định, kết quả: Số chất bột cục m u tr ng nghi l Heroine bên trong gói gói nilon m u hồng, có khối lượng 0,25 gam. Trích 0,13 gam, ký hiệu A2 gửi giám định. Còn lại 0,12 gam, ký hiệu B2. 04 (bốn) viên nén m u hồng nghi l ma túy tổng hợp trong gói gói nilon m u hồng, có khối lượng 0,33 gam. Trích 02 (hai) viên nén m u hồng có 0,17 gam, ký hiệu A1 gửi giám định. Còn lại 02 (hai) viên nén m u hồng có khối lượng 0,16 gam, ký hiệu B1.

Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo Lò Văn K khai mua của Tòng Văn B, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Tiểu khu N C i, xã TC (trước l tiểu khu N C i, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La.

Ng y 07/4/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra lệnh giữ người trong hợp khẩn cấp đối với Tòng Văn B tại tiểu khu N C i, thị trấn Thuận Châu, tỉnh Sơn La v cùng ng y 07/4/2025 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La lập biên bản b t người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Vật chứng thu giữ: 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng), Tòng Văn B khai l tiền bán ma tuý cho Lò Văn K; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35 m n hình cảm ứng, vỏ m u xanh đen, kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0868.022.973, đã qua sử dụng (Tòng Văn B khai l chiếc điện thoại dùng liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Lò Văn K).

Ng y 11/7/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra lệnh giữ b t tạm giam đối với Bạc Cầm H.

Kết luận giám định số: 459/KL-KTHS ngày 10/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: M u gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của m u gửi giám định l 0,17 gam. M u gửi giám định ký hiệu A2 l ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định l 0,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine và 0,33 gam, loại Methamphetamine. Ho n lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Kết luận giám định số: 476/KL-KTHS ngày 15/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định l tiền thật. Ho n lại đối tượng giám định: Ho n trả to n bộ m u vật gửi giám định.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa các bị cáo Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H và Tòng Văn B đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội như sau:

Chiều ng y 05/4/2025, Tòng Văn T, sinh năm 1992, trú tại bản Lét Trạng, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La (nay là xã N, tỉnh Sơn La) kết bạn Facebook với Lường Văn Th, sinh năm 2005, trú tại: Bản Mỏ, xã Chiềng Bôm, tỉnh Sơn La (nay l bản Mỏ, xã N, tỉnh Sơn La), gọi điện thoại l m quen với Thanh. Tuyền hỏi Thanh có sử dụng ma túy không, Thanh trả lời có. Tuyền nói đang đi l m thuê ở Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đến ngày 06/4/2025 Tuyền sẽ về Thuận Châu v hẹn gặp Thanh đi tìm mua ma túy về cùng sử dụng, Thanh đồng ý. Khoảng 19 giờ 15 phút ng y 05/4/2025, Tòng Văn T b t xe khách từ Thái Nguyên lên Sơn La, sau đó đón xe buýt lên thị trấn Thuận Châu (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Tuyền đi đến nh nghỉ Hùng Ngân thuộc tiểu khu 3, xã TC, thuê phòng nghỉ số 202. Sau đó Tuyền gọi điện thoại cho Thanh nói đã về đến Thuận Châu v hẹn gặp Thanh tại Công viên Thuận Châu, Thanh đồng ý. Gặp nhau, Tuyền bảo Thanh biết chỗ n o bán ma túy mua cho Tuyền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) hồng phiến v Heroine. Tuyền và Thanh b t xe ôm xuống khu vực bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu (Nay là xã TC) để mua ma tuý, nhưng không mua được. Sau đó, cả hai đón xe buýt quay về, trên xe buýt, Thanh gọi cho Bạc Cầm H, sinh năm 2006, trú tại tiểu Chiềng Ly, xã TC hỏi biết chỗ n o mua được ma túy thì mua hộ 500.000 đồng để cùng sử dụng, Hải trả lời có và hẹn Thanh ra công viên Thuận Châu.

Sau đó, Hải gọi điện thoại cho Lò Văn K, sinh năm 2000, trú tại Tiểu khu Nà Cài, xã TC, tỉnh Sơn La hỏi Kim biết chỗ n o bán ma túy, Kim trả lời có, Hải bảo Kim đến đón Hải cùng ra công viên Thuân Châu để gặp Thanh. Kim đồng ý và điều khiển xe máy BKS 26AE-006.42 đến đón Hải. Khi Kim v Hải đến công viên Thuận Châu thì Thanh d n Tuyền đến gặp Hải v Kim. Khi có mặt cả bốn người, Thanh v Tuyền nói biết chỗ n o mua ma túy thì mua 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cả hồng phiến v Heroine về cùng nhau sử dụng. Sau đó Kim gọi điện thoại cho Tòng Văn B, sinh năm 1993, trú tại tiểu khu Nà Cài, xã TC, tỉnh Sơn La hỏi mua ma túy, B ch trả lời có v bảo Kim v o nhà Bích mua ma túy. Kim thông báo lại với Tuyền, Thanh v Hải là có chỗ mua ma túy. Tuyền nói sẽ đi cùng Kim mua ma túy v bảo Thanh khi n o về sẽ gọi Thanh v Hải v o phòng nghỉ 202 nh Nghỉ Hùng Ngân cùng sử dụng ma túy.

Kim tiếp tục điều khiển xe máy BKS: 26AE -006.42 chở Tuyền đi đến ngã ba tiểu khu N C i, xã TC, tỉnh Sơn La thì Kim bảo Tuyền xuống xe đưa tiền để Kim đi một mình, Tuyền lấy số tiền 500.000 đồng cho v o túi quần Kim. Kim một mình điều khiển xe máy đi v o gặp v hỏi mua được của Bích 01 gói ma túy, gói bằng nilon m u hồng bên trong có chứa Heroine v 04 viên ma túy tổng hợp với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Kim cất giấu ma túy v o túi quần bên trái đang mặc rồi đi ra đón Tuyền về nh nghỉ Hùng Ngân. Thanh v Hải cũng đi ra nh nghỉ Hùng Ngân. Có mặt cả 04 người, Kim lấy gói ma túy ra để ở b n uống nước chuẩn bị cùng nhau sử dụng thì bị tổ công tác Công an tỉnh Sơn La v Công an xã TC, tỉnh Sơn La phát hiện, b t quả tang đối với Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th v thu giữ cùng vật chứng, Bạc Cầm H bỏ chạy.

Bị cáo Tòng Văn B khai nhận: V o khoảng 09 giờ ng y 01/4/2025, Tòng Văn B đi xe ôm của một người đ n ông không quen biết đi từ nh ở tiểu khu N Cài, xã TC, tỉnh Sơn La lên xã Mường Bám, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng v bán kiếm lời. Khi đến xã Mường Bám, B ch đi qua một cây cầu, rẽ trái đi khoảng hơn 10km, B ch v o một ngôi nh ở bên tay phải (Tòng Văn B không biết thuộc bản n o của xã Mường Bám) thì gặp v hỏi mua được của một người đ n ông dân tộc Mông giới thiệu tên Dê, khoảng 25 tuổi (B ch không biết họ, địa chỉ cụ thể của Dê) 01 gói nilon m u hồng bên trong có chứa khoảng 03 phân Heroine v 13 viên ma túy tổng hợp với số tiền 1.200.000đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, B ch đi xe ôm quay về nh . Từ ng y 01/4/2025 đến ng y 06/4/2025 thì B ch đã san Heroine v 09 viên ma túy tổng hợp có trong gói nilon m u hồng ra sử dụng một mình hết bằng hình thức đốt h t. Số Heroine v 04 viên ma túy tổng hợp còn lại, B ch gói lại bằng mảnh nilon m u hồng v cất giấu trong lỗ của viên gạch trước cửa nh để sử dụng và bán kiếm lời. Đến chiều ng y 05/4/2025, Tòng Văn B đã bán số Heroine v 04 viên ma túy tổng hợp còn lại cho Lò Văn K với giá 500.000 đồng, sau khi bán ma túy cho Kim xong, B ch không biết Kim đi đâu, l m gì.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT- VKS-KV2 ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố bị cáo Tòng Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H về tội T ng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên to hôm nay, các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố v thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Tòng Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy; truy tố các bị cáo Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H về tội t ng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La giữ quyền công tố tại phiên to trình b y lời luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ h nh vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Tòng Văn B từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Tòng Văn T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lường Văn Th phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lường Văn Th từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm H phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù 03 (ba) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

01 (một) phong bì niêm phong Công an tỉnh Sơn La bên trong có: 02 (Hai) viên dạng nén m u hồng có khối lượng 0,16 gam được đựng trong một túi nilon m u tr ng h n k n, ký hiệu B1 + Chất cục bột m u tr ng có khối lượng 0,12 gam được đựng trong một túi nilon m u tr ng h n k n, ký hiệu B2 + 01 mảnh nilon m u hồng". 01 (một) phong bì niêm phong Công an tỉnh Sơn La bên trong có: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở". 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Lò Văn K. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Tòng Văn T. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Lường Văn Th. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại của Bạc Cầm H. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại của Tòng Văn B. 01 (một) phong bì niêm số tiền 500.000 đồng.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách nh nước:

Số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Tòng Văn B (l tiền bán ma túy cho bị cáo Lò Văn K).

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max; m u v ng thu giữ của bị cáo Lò Văn K. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s; kiểu máy: CPH1853, m u đỏ thu giữ của bị cáo Tòng Văn T. 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime; số kiểu máy: SM-G610F/DS, m u xanh đen thu giữ của bị cáo Lường Văn Th. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, m u v ng, phần lưng máy bị vỡ, hỏng thu giữ của bị cáo Bạc Cầm H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA35, m n hình cảm ứng, vỏ m u xanh đen thu giữ của bị cáo Tòng Văn B.

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lò Thị D: Một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Ja393 WAVE, biển số đăng ký 26AE-006.42. 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (bản sao) mang tên Lò Văn K, số 26 006280, biển số đăng ký 26AE -006.42 (phô tô). 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy mang tên Lò Văn K. 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy, số 2400647063 mang tên Lò Văn K;

Buộc bị cáo Bạc Cầm H phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Tòng Văn B, Lò Văn K Lường Văn Th, Tòng Văn T.

Tại phiên tòa, các bị cáo Tòng Văn B, Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th, Tòng Văn T đã thừa nhận h nh vi phạm tội v không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lò Thị D có ý kiến: Xin lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Ja393 WAVE, biển số đăng ký 26AE-006.42. 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (bản sao) mang tên Lò Văn K, số 26 006280, biển số đăng ký 26AE -006.42 (phô tô). 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy mang tên Lò Văn K. 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy, số 2400647063 mang tên Lò Văn K và không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến h nh tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra v tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng.

Căn cứ xác định tội danh:

Tại phiên to các bị cáo Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th, Tòng Văn T khai nhận: Khoảng 19 giờ 15 phút ng y 05/4/2025, Tòng Văn T đi xe khách từ Thái Nguyên lên Sơn La v đi xe buýt lên xã TC, tỉnh Sơn La. Đến Thuận Châu, Tuyền sang nh nghỉ Hùng Ngân thuộc tiểu khu 3, xã TC, thuê phòng nghỉ số 202 và gọi điện thoại cho Thanh v hẹn gặp Thanh tại Công viên Thuận Châu để rủ Thanh đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Gặp nhau, Tuyền và Thanh b t xe ôm v o khu vực bản Thôm, xã TC để mua ma tuý, nhưng không mua được. Sau đó, cả hai đón xe buýt quay về, trên xe buýt, Thanh gọi điện cho Bạc Cầm H hỏi mua hộ ma túy để cùng nhau sử dụng. Sau đó Hải gọi điện thoại cho Lò Văn K hỏi Kim biết chỗ n o bán ma túy thì đến đón Hải. Kim điều khiển xe máy BKS 26AE-006.42 đón Hải đến công viên Thuận Châu gặp Thanh và Tuyền. Gặp nhau, Thanh v Tuyền nói biết chỗ n o mua ma túy thì mua 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cả hồng phiến v Heroine về cùng nhau sử dụng. Sau đó, Kim gọi điện thoại cho Tòng Văn B để hỏi mua ma túy. Kim điều khiển xe máy BKS: 26AE -006.42 chở Tuyền đi đến ngã ba tiểu khu Nà Cài, xã TC, tỉnh Sơn La thì Kim bảo Tuyền xuống xe đưa tiền để Kim đi một mình, Tuyền lấy số tiền 500.000 đồng cho v o túi quần Kim. Kim một mình điều khiển xe máy đi v o gặp v hỏi mua được của B ch 01 gói ma túy, gói bằng nilon m u hồng bên trong có chứa Heroine v 04 viên ma túy tổng hợp với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Kim cất giấu gói ma túy v o túi quần bên trái đang mặc rồi chở Tuyền về nh nghỉ Hùng Ngân. Đến phòng 202 nhà nghỉ Hùng Ngân, Kim bỏ gói ma túy để ở b n uống nước khi Kim, Tuyền, Hải, Thanh, chuẩn bị cùng nhau sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an tỉnh Sơn La và Công an xã TC, tỉnh Sơn La phát hiện, b t quả tang khi cất giữ trái phép 0,58 gam chất ma túy (trong đó 0,25 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,33 gam, loại Methamphetamine) tại phòng 202 nhà nghỉ Hùng Ngân đối với Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th. Ngày 11/7/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra lệnh giữ b t tạm giam đối với Bạc Cầm H.

Tại phiên to bị cáo Tòng Văn B khai nhận ng y 05/4/2025 đã có h nh vi bán trái phép một gói Heroine gói bằng nilon m u hồng bên trong có chứa Heroine v 04 viên ma túy tổng hợp cho Lò Văn K với giá là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Tòng Văn B khai nhận số ma túy bán cho Lò Văn K là do Bích mua của một người đ n ông dân tộc Mông giới thiệu tên Dê, khoảng 25 tuổi (B ch không biết họ, địa chỉ cụ thể của Dê) 01 gói nilon m u hồng bên trong có chứa khoảng 03 phân Heroine v 13 viên ma túy tổng hợp với giá 1.200.000 đồng vào ngày 01/4/2025, sau khi mua được ma túy, Bích đã san Heroine và 09 viên ma túy tổng hợp có trong gói nilon m u hồng ra sử dụng một mình hết bằng hình thức đốt h t. Số Heroine v 04 viên ma túy tổng hợp còn lại Bích bán cho Lò Văn K.

Bị cáo Tòng Văn B thừa nhận, ng y 07/4/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra lệnh giữ người trong hợp khẩn cấp đối với Tòng Văn B tại tiểu khu N C i, thị trấn Thuận Châu, tỉnh Sơn La v cùng ng y 07/4/2025 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La lập biên bản b t người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Vật chứng thu giữ: 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng), Tòng Văn B khai l tiền bán ma tuý cho Lò Văn K; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35 m n hình cảm ứng, vỏ m u xanh đen, kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0868.022.973, đã qua sử dụng (Tòng Văn B khai l chiếc điện thoại dùng liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Lò Văn K).

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì l m thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo ho n to n nhất tr với h nh vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản b t người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định v niêm phong lại; biên bản mở niêm phong v giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 459/KL-KTHS ngày 10/4/2025; Kết luận giám định số: 476/KL-KTHS ngày 15/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở kết luận:

H nh vi bán trái phép một gói ma túy gói bằng nilon m u hồng cho Lò Văn K với giá l 500.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Tòng Văn B đã phạm v o tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi rủ nhau đi mua ma túy với mục đ ch để cùng nhau sử dụng của các bị cáo Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th, Tòng Văn T khi các bị cáo đang cất giữ trái phép 0,58 gam chất ma túy (trong đó 0,25 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine v 0,33 gam chất ma túy, loại Methamphetamine) thì bị phát hiện b t quả tang, h nh vi của các bị cáo Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th, Tòng Văn T đã phạm v o tội T ng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Tòng Văn T l người rủ rê, khởi xướng, l người bỏ số tiền 500.000đ để đi mua túy, các bị cáo Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th cùng thống nhất ý ch , bị cáo Lò Văn K l người trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị xe máy là công cụ phương tiện đi mua ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Tòng Văn T, Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th phạm tội với vai trò đồng phạm, do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét vai trò của các bi cáo.

H nh vi phạm tội của các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ng y 01/7/2025, khi bị cáo bị đưa ra xét xử Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự quy định không có lợi cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ v o điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự và điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xét xử đối với các bị cáo.

T nh chất, mức độ nguy hiểm của h nh vi phạm tội:

H nh vi phạm tội mua bán trái phép chất của bị cáo Tòng Văn B thuộc trường hợp nghiêm trọng v nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nh nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Tòng Văn B mục đ ch mua bán ma túy để hưởng lợi, thu lợi bất ch nh. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm kh c nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

H nh vi phạm tội của các bị cáo Tòng Văn T, Bạc Cầm H, Lò Văn K, Lường Văn Th thuộc trường hợp nghiêm trọng v nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nh nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm kh c nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Tòng Văn T, Bạc Cầm H, Lường Văn Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án số 05/2024/HSST ng y 09/01/2024 bị cáo Tòng Văn T bị Tòa án nhân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (nay l Tòa án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên) xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội trộm c p t i sản (chấp h nh xong hình phạt tù ng y 20/3/2025). Tại bản án số 178/2022/HSST ng y 23/9/2022 bị cáo Lò Văn K bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay l Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù giam về tội t ng trữ trái phép chất ma túy (chấp h nh xong hình phạt tù ng y 14/12/2023). H nh vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn K, Tòng Văn T thuộc trường hợp "tái phạm”, l tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Tòng Văn B: Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo đều th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th: Quá trình điều tra v tại phiên tòa các bị cáo đều th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo t ch cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bạc Cầm H: Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội được nh nước tặng thưởng huân chương kháng chiến l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H đều có nhân thân xấu. Bị cáo Tòng Văn B có 02 tiền án đã được xóa án t ch; bị cáo Tòng Văn T có 01 tiền án chưa được xóa án tích, có 01 tiền sự đã được xóa; bị cáo Lường Văn Th có 01 tiền án tuy nhiên tại thời điểm thực hiện h nh vi tại bản án trước đó, bị cáo Lường Văn Th l người dưới 18 tuổi, vì vậy không được coi l có án t ch; bị cáo Bạc Cầm H có 01 tiền án tuy nhiên tại thời điểm thực hiện h nh vi tại bản án trước đó, bị cáo Lường Văn Th l người dưới 18 tuổi, vì vậy không được coi l có án t ch; bị cáo Lò Văn K có 01 tiền án chưa được xóa án t ch.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền):

Các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H không có t i sản, không có đủ điều kiện v khả năng thi h nh hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với h nh vi sử dụng trái phép chất ma túy ng y trước đó của các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th. Quá trình điều tra xác định các bị cáo tự mua ma túy, tự sử dụng hết ma túy, không thu giữ được vật chứng, không đủ căn cứ xử lý hình sự. Do vậy ng y 29/8/2025 Công an tỉnh Sơn La đã ra quyết định xử phạt vi phạm h nh ch nh số 0005727 về h nh vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với bị cáo Lò Văn K; quyết định xử phạt vi phạm h nh ch nh số 0005729 về h nh vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với bị cáo Lường Văn Th; quyết định xử phạt vi phạm h nh ch nh số 0005728 về h nh vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với bị cáo Tòng Văn T; quyết định xử phạt vi phạm h nh ch nh số 0005730 về h nh vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với bị cáo Tòng Văn B l có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của các bị cáo Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H: Các bị cáo đều thừa nhận l số ma túy của bị cáo Tòng Văn B bán cho bị cáo Lò Văn K. Nguồn gốc số ma túy bị cáo Tòng Văn B bán cho bị cáo Lò Văn K, bị cáo Bích khai mua của một người đ n ông dân tộc Mông giới thiệu tên Dê, khoảng 25 tuổi ( bị cáo B ch không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể của Dê) tại xã Mường Bám, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra xác định tại xã Mường Bám không có người n o tên Dê, khoảng 25 tuổi. Do đó, buộc các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th, Bạc Cầm H phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.

Đối với người bán ma túy cho các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th trước đó, các bị cáo tự mua, tự sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th đều khai là một người đ n ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Ngo i lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ n o khác chứng minh. Do đó, cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ xử lý l đúng quy định của pháp luật.

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong Công an tỉnh Sơn La bên trong có: 02 (Hai) viên dạng nén m u hồng có khối lượng 0,16 gam được đựng trong một túi nilon m u tr ng h n k n, ký hiệu B1 + Chất cục bột m u tr ng có khối lượng 0,12 gam được đựng trong một túi nilon m u tr ng h n k n, ký hiệu B2 + 01 mảnh nilon m u hồng". 01 (một) phong bì niêm phong Công an tỉnh Sơn La bên trong có: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở". 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Lò Văn K. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Tòng Văn T. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Lường Văn Th. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại của Bạc Cầm H. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại của Tòng Văn B. 01 (một) phong bì niêm phong số tiền 500.000 đồng là vật thuộc loại nh nước cấm t ng trữ, cấm lưu h nh, là công cụ phương tiện dùng v o việc phạm tội, vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo Tòng Văn B được hưởng lợi từ việc bán ma túy cho bị cáo Lò Văn K l tiền thu lợi bất ch nh, tiền do phạm tội m có cần tịch thu nộp ngân sách Nh nước căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng thu giữ của bị cáo Lò Văn K. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, kiểu máy: CPH1853, m u đỏ thu giữ của bị cáo Tòng Văn T. 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, số kiểu máy: SM-G610F/DS, màu xanh đen thu giữ của bị cáo Lường Văn Th. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, m u v ng, phần lưng máy bị vỡ, hỏng thu giữ của bị cáo Bạc Cầm H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA35, m n hình cảm ứng, vỏ m u xanh đen thu giữ của bị cáo Tòng Văn B. Đều là t i sản riêng của các bị cáo, l công cụ, phương tiện các bị cáo dùng v o việc phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nh nước. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Ja393 WAVE, biển số đăng ký 26AE-006.42, xe đã qua sử dụng cũ thu giữ của bị cáo Lò Văn K vào ngày 06/4/2025, l phương tiện bị cáo Lò Văn K chở Bạc Cầm H đi mua ma túy, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (bản sao) mang tên Lò Văn K, số 26 006280, biển số đăng ký 26AE -006.42 (phô tô), 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy mang tên Lò Văn K, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy, số 2400647063 mang tên Lò Văn K. Quá trình điều tra xác định t i sản của chị Lò Thị D, bị cáo chỉ đứng tên đăng ký hộ chị Dung. Việc bị cáo Lò Văn K sử dụng chiếc xe máy chở Tuyền đi mua ma túy, chị Dung không biết. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại chiếc xe máy và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (bản sao) mang tên Lò Văn K, số 26 006280, biển số đăng ký 26AE -006.42 (phô tô), 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy mang tên Lò Văn K, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy, số 2400647063 mang tên Lò Văn K trên cho chủ sở hữu hợp pháp chị Lò Thị D l có căn cứ, đúng pháp luật căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự.

Đối với công cụ các bị cáo Tòng Văn B, Tòng Văn T, Lò Văn K, Lường Văn Th sử dụng trái phép chất ma túy trước đó, sau khi sử dụng ma túy xong các bị cáo đều khai đã vứt và không nhớ địa điểm cụ thể, do vậy cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ xử lý l đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo Bạc Cầm H phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Tòng Văn B, Lò Văn K, Tòng Văn T, Lường Văn Th l người dân tộc thiểu số sinh sống ở bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph v lệ ph Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Tòng Văn T, Lường Văn Th.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt v các vấn đề liên quan khác l phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. V i u luật áp d ng tội danh h nh phạt:

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Tòng Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Tòng Văn B 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y 07/4/2025.

1.2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 34 (ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y 06/4/2025.

1.3. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Lường Văn Th phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lường Văn Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y 06/4/2025.

1.4. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm H phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bạc Cầm H 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y 11/7/2025.

1.5. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn K 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y 06/4/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

2. V ật chứng án: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong Công an tỉnh Sơn La bên trong có: 02 (Hai) viên dạng nén m u hồng có khối lượng 0,16 gam được đựng trong một túi nilon m u tr ng h n k n, ký hiệu B1 + Chất cục bột m u tr ng có khối lượng 0,12 gam được đựng trong một túi nilon m u tr ng h n k n, ký hiệu B2 + 01 mảnh nilon m u hồng". 01 (một) phong bì niêm phong Công an tỉnh Sơn La bên trong có: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở". 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Lò Văn K. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Tòng Văn T. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động thu giữ của Lường Văn Th. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động của Bạc Cầm H. 01 (một) phong bì niêm phong Điện thoại di động của Tòng Văn B. 01 (một) phong bì niêm phong tiền 500.000 đồng.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách nh nước: Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng thu giữ của bị cáo Lò Văn K. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, kiểu máy: CPH1853; m u đỏ thu giữ của bị cáo Tòng Văn T. 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, số kiểu máy: SM-G610F/DS, m u xanh đen thu giữ của bị cáo Lường Văn Th. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, m u v ng, phần lưng máy bị vỡ, hỏng thu giữ của bị cáo Bạc Cầm H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA35, m n hình cảm ứng, vỏ m u xanh đen thu giữ của bị cáo Tòng Văn B.

Trả lại cho chị Lò Thị D một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Ja393 WAVE, biển số đăng ký 26AE-006.42, xe đã qua sử dụng cũ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (bản sao) mang tên Lò Văn K, số 26 006280, biển số đăng ký 26AE -006.42 (phô tô); 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy mang tên Lò Văn K; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy, số 2400647063 mang tên Lò Văn K.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng số 17/QĐ-VKS-KV2 ngày 04/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La v Biên Bản giao nhận vật chứng, t i sản số 27 ngày 19/9/2025 giữa Công an tỉnh Sơn La v Phòng Thi h nh án dân sự khu vực 2 - Sơn La).

3. V án ph :

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph v lệ ph Tòa án: Buộc bị cáo Bạc Cầm H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph v lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Tòng Văn B, Lò Văn K, Tòng Văn T, Lường Văn Th.

4. V quy n kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Tòng Văn B, Bạc Cầm H, Lò Văn K, Tòng Văn T, Lường Văn Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng y, kể từ ng y tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lò Thị D được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ng y, kể từ ng y tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ