vanban.org

Bản án 30/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Lò Văn V 37 (Ba mươi bảy) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 10 Luật Phí và lệ phí; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HSST
Ngày: 26/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hiên; Bà Nguyễn Thị Hương Giang

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Toan - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 12 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hiếu - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng.

Ngày 26/9/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 15/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 15/9/2025 đối với bị cáo:

Lò Văn V, sinh năm 2005; CCCD số 011205002138

Nơi ĐKTT: Bản Kệt, xã T, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn C và bà Lường Thị T; Gia đình có 2 anh em bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 06/8/20258 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; Có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm T1 – thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 31/7/2025, Lò Văn V đến quán nước tại ở thôn Q, phương T, Thành phố Hải Phòng ngồi chơi. Tại đây, V gặp 1 người đàn ông không xác định được nhân thân, lai lịch, qua nói chuyện biết người này có bán ma túy nên nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. V hỏi mua của người đàn ông 400.000 đồng ma túy H, người đàn ông đồng ý và hẹn 22 giờ cùng ngày giao ma túy cho V tại khu vực nghĩa trang L1 thôn Q.

Khoảng 22 giờ, V đi bộ đến khu vực đã hẹn đứng đợi, một lúc sau người đàn ông bán ma túy đi xe mô tô đến đưa cho V 01 gói ma túy Heroine, V trả cho người đàn ông 400.000 đồng. Sau khi mua đươc ma túy, V cầm gói ma túy ở tay trái đi tìm nơi sử dụng. Khi V đang đi bộ trên đoạn đường gần nghĩa trang thì Tổ Công tác Công an phường T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay trái của V 01 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ ngang kích thước (0,5x2)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, V khai nhận là ma túy loại Heroine, cất giấu mục đích để sử dụng

Kết luận giám định số 621/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng trong gói giấy thu giữ của Lò Văn V là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,21g. H1 lại đối tượng giám định: 0,13g ma túy loại Heroine cùng vỏ bao gói mẫu vật trong niêm phong số 621MT/PC09.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 14/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng truy tố Lò Văn V, về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Xử phạt: Bị cáo từ 3 năm 3 tháng – 3 năm 6 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ số ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Xác định về tội danh của bị cáo theo như cáo trạng truy tố là chính xác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức hạn chế, khu vực cư trú thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Về các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất và miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tang vật chứng, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 31/7/2025 tại khu vực nghĩa trang L1 thuộc thôn Q, phường T, thành phố Hải Phòng, Lò Văn V có hành vi cất giấu trái phép tại lòng bàn tay trái 0,21g, loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác của Công an phường T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi cất giấu chất ma túy mục đích để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự có quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 0,13g ma tuý loại Heroine và toàn bộ bao gói mẫu được đựng trong niêm phong số phong số 621MT/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với người bán ma túy cho V, không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên HĐXX miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại Điều 10 Luật phí và lệ phí, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn V 37 (Ba mươi bảy) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy: 0,13g ma tuý loại Heroine và toàn bộ bao gói mẫu được đựng trong niêm phong số phong số 621MT/PC09.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Hải Phòng ngày 18/9/2025).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 10 Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn án phí cho bị cáo Lò Văn V.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ