- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn Chỉnh, Đỗ Văn Lương - Mua bán, Tàng trữ ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn L;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/HSST Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Ông Nguyễn Quyết Thắng
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Chung - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 07/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với:
* Các bị cáo:
1. Họ và tên: Đàm Văn C1; Sinh năm 1978 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; HKTT: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đàm Văn T, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Hoàng Thị C2, sinh năm 1965 (đã chết); Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không có.
- Nhân thân:
+ Bản án số 08/HSST ngày 23/5/2002 Toà án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc.
+ Bản án số 27/HSST ngày 21/10/2011 Toà án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 05 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc.
+ Bản án số 04/HSST ngày 21/01/2014 Toà án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Huỷ hoại tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 20/12/2024 thì chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt).
2. Họ và tên: Đỗ Văn L; Sinh năm 1988 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; HKTT: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đỗ Văn L1, sinh năm 1958 và bà Đào Thị L2, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là út; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không có;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 20/12/2024 thì chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt)
* Ngƣời chứng kiến: Ông Tạ Văn N, sinh năm: 1966. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có đối tượng nghi tàng trữ trái phép chất ma túy tại thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Lực lượng CSĐT Công an huyện V phối hợp với Công an xã L đã yêu cầu dừng xe mô tô gắn biển số 89L1-256.24 do Đỗ Văn L, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú: thôn L, xã L đang điều khiển trên đường bê tông của thôn L để kiểm tra, thì phát hiện và bắt quả tang L đang có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Trong lúc bị kiểm tra, L đã thả gói ma túy từ lòng bàn tay trái rơi xuống nền đường thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ kịp thời. L khai nhận gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá do L mua của Đàm Văn C1, sinh năm 1978, thường trú tại thôn H, xã T, huyện V để sử dụng. Do vậy, gói ma túy trên đã được lực lượng Công an niêm phong trong phong bì kí hiệu M1. Ngoài ra còn thu giữ của L: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, gắn biển số 89L1-256.24 và 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng hồng.
Ngay sau đó, CQCSĐT Công an huyện V tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone màu vàng hồng của L thì phát hiện: có cuộc gọi giữa số điện thoại của L, gọi đến số điện thoại của C1 có số thuê bao 0869988699 vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 17/12/2024.
Cùng ngày, CQCSĐT Công an huyện V khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại thôn L, xã L, nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan. Cơ quan điều tra cũng đã thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp trên người và chỗ ở của Đàm Văn C1 tại thôn H, xã T, thì phát hiện và thu giữ: tại túi quần phía trước bên phải mà C1 đang mặc có 01 túi nilon màu trắng hình vuông, kích thước 4x4cm, miệng có khóa dán ép viền màu đỏ, bên trong đựng 4 túi nilon nhỏ màu trắng hình chữ nhật cùng kích thước (1,5x2)cm, miệng có khóa dán ép viền màu xanh, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), nên đã tiến hành niêm phong trong phong bì kí hiệu M2 và C1 khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Khám xét chỗ ở của C1 thì không phát hiện đồ vật gì có liên quan. Cùng ngày, CQCSĐT Công an huyện V đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đàm Văn C1.
Cũng trong ngày 17/12/2024, CQCSĐT Công an huyện V đưa L và C1 đến Trung tâm y tế huyện V để xét nghiệm chất ma túy có trong cơ thể và trưng cầu giám định chất tinh thể màu trắng đã thu giữ của L và Chỉnh trong niêm phong kí hiệu M1, M2. Kết quả xét nghiệm xác định L và C1 dương tính với cùng loại ma túy MET, MDMA. Ngày 20/12/2024, Phòng K Công an tỉnh H giám định, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là 0,311g, là ma túy loại Methamphetamine; mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M2, có tổng khối lượng là 0,797g, là ma túy loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, C1 khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 17/12/2024, thông qua các mối quan hệ xã hội, C1 biết khu vực đê L - B thuộc huyện G, thành phố Hà Nội có người bán ma túy đá. Nên khoảng 14 giờ ngày 17/12/2024, C1 đi xe ôm (của người không rõ lai lịch) đi trên đường Đ, qua địa phận xã B thì gặp người nam thanh niên nghi có bán ma túy đá nên hỏi mua 500.000đ, thì được người này đưa cho 01 túi nilon màu trắng, miệng có khóa dán ép viền màu đỏ, bên trong có 5 gói nilon nhỏ đều chứa ma túy đá. Chỉnh cầm số ma túy trên mang về nhà với mục đích là để bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, L gọi điện cho C1 hỏi mua ma túy, nên C1 đồng ý bán 01 gói ma túy đá với giá 500.000₫ rồi trừ vào khoản tiền trước đó C1 có nợ L. Còn lại 4 gói ma túy, thì C1 cất vào túi quần phía trước bên phải mà C1 đang mặc, để nếu ai hỏi mua thì tiếp tục bán. Nhưng C1 chưa kịp bán thì đã bị lực lượng CSĐT Công an huyện V khám xét và thu giữ.
Kết quả xác minh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu gắn biển số 89L1-256.24 xác định: biển số 89L1-256.24 là của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967, ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên và xe mô tô Yamaha biển số 89L1-256.24 không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Anh Đ khai nhận xe mô tô Y nói trên vẫn đang sử dụng, còn biển số xe thì bị rơi mất và anh đã làm thủ tục xin cấp lại biển số, nên không yêu cầu gì đối với chiếc biển số xe 89L1- 256.24 mà cơ quan điều tra đang quản lý. Còn đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu thu giữ của L, đã tiến hành xác minh thì xác định: chiếc xe đã bị mài, đục số khung số máy. Ngày 10/02/2025, CQCSĐT Công an huyện V đã trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy đối với chiếc xe nói trên. Ngày 11/02/2025, Phòng K Công an tỉnh H giám định và kết luận: xe mô tô kiểu dáng Honda Dream màu nâu, gắn biển số 89L1-256.24 có hàng số khung, số máy bị mài phá sâu, không xác định được số nguyên thủy. Còn L thì khai: xe mô tô nói trên là do L mua tại cửa hàng mua bán xe máy cũ ở khu vực huyện V, tỉnh Hưng Yên (không nhớ của ai và ở đâu) với giá 3.000.000₫ từ năm 2020. Khi mua xe không viết giấy tờ mua bán, xe không có biển số. Sau đó L nhặt được biển số 89L1-256.24 ở 01 bãi rác gần nhà, nên đã gắn vào xe mô tô nói trên. Do vậy, chưa có căn cứ để xử lý đối với chiếc xe mô tô đã thu giữ của L, đề nghị CQCSĐT Công an tỉnh H tiếp tục quản lý xe mô tô kiểu dáng Honda Dream màu nâu, gắn biển số 89L1-256.24 để tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho C1 vào ngày 17/12/2024, do không rõ lai lịch cụ thể, nên không có căn cứ để Cơ quan điều tra xác minh, xử lý.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSVG ngày 06/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đã truy tố Đỗ Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự; Đàm Văn C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn, hối cải và đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đàm Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đàm Văn C1;
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn L;
- Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đàm Văn C1 từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/12/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, đề nghị:
- Tịch thu cho tiêu hủy Mẫu vật hoàn lại niêm phong sau giám định bên trong chứa 0,299g ma túy loại Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M1; 0,783g ma túy loại Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone màu vàng hồng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Đỗ Văn L;
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Dream màu nâu gắn biển số 89L1-256.24 chưa xác định được chủ sở hữu giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H quản lý để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
Về án phí: Buộc các bị cáo Đàm Văn C1 và Đỗ Văn L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo nhất trí, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng quy định pháp luật.
- Người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX tiếp tục xét xử.
. Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 17/12/2024, tại nhà của gia đình Đàm Văn C1 ở thôn H, xã T, huyện V; C đã bán trái phép cho Đỗ Văn L 01 gói ma túy có khối lượng 0,311g loại Methamphetamine với giá 500.000₫ để L sử dụng. Ngoài ra, C1 còn cất giấu trên người 4 gói ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,797g với mục đích để bán cho người khác. Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine mà C1 đã bán và cất giấu để bán là 1,108g. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô cầm theo gói nilon chứa 0,311g ma tuý đã mua của C1 để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng CSĐT Công an huyện V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm minh, nhưng vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy và mục đích tư lợi, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Đàm Văn C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật theo bản Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của các bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính các bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy và mục đích tư lợi, các bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng, mua bán nên cần xử lý bằng một bản án thật nghiêm.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho C1, do không xác minh được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân:
+ Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma tuý.
+ Bị có C1 có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này bị cáo đã 03 lần bị Tòa án kết án về các tội Đánh bạc, tội Tổ chức đánh bạc và tội Hủy hoại tài sản đều đã được xóa án tích.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo tránh xa ma túy và để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:
- Mẫu vật hoàn lại niêm phong sau giám định bên trong chứa 0,299g ma túy loại Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M1; 0,783g ma túy loại Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại Iphone màu vàng hồng đã qua sử dụng của Đỗ Văn L là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên sẽ tịch thu cho phát mại, sung vào Ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Dream màu nâu gắn biển số 89L1-256.24 đã qua sử dụng, không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ nên chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp sẽ giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H quản lý để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đàm Văn C1;
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn L;
- Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
3. Xử phạt:
- Bị cáo Đàm Văn C1 03(ba) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2024.
- Bị cáo Đỗ Văn L 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2024.
4. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy mẫu vật hoàn lại niêm phong sau giám định bên trong chứa 0,299g ma túy loại Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M1; 0,783g ma túy loại Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- Tịch thu 01 điện thoại Iphone màu vàng hồng đã qua sử dụng của bị cáo Đỗ Văn L cho phát mại sung vào Ngân sách nhà nước.
- Giao 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Dream màu nâu gắn biển số 89L1-256.24 đã qua sử dụng, không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
(Tình trạng số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang)
5. Về án phí: Bị cáo Đàm Văn C1, Đỗ Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; -Công an tỉnh Hưng Yên - VKS huyện Văn Giang; - Chi cục THADS huyện Văn Giang; -UBND xã Tân Tiến, Văn Giang, Hưng Yên -UBND xã Long Hưng, Văn Giang, Hưng Yên - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thoa |