vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Xử lý vật chứng: 1. Tịch thu, tiêu hủy 1,767 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “ĐỒN BIÊN PHÒNG CỬA KHẨU CHI MA QT (Vương Văn V)” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T1, đại diệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 30-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vy Thị Thơm;

Bà Đặng Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Sinh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Vương Văn V, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1999 tại xã M, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã M, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn C và bà Bế Thị Đ; vợ: Chưa có; con: Vương Tuệ N, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại quyết định số 90/QĐ-XPVPHC ngày 22/5/2018 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính đối với Vương Văn V về hành vi Huỷ hoại tài sản, phạt tiền 2.000.000 đồng (đã nộp 30/5/2018) và Quyết định số 46 ngày 06/8/2020 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính đối với Vương Văn V về hành vi Đánh nhau, phạt tiền 750.000 đồng (đã nộp 17/8/2020), chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ tại Buồng tạm giữ Đồn Biên phòng cửa khẩu C1 từ ngày 14/6/2025 đến ngày 15/6/2025, chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam L - Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 16/6/2025 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Hoàng Diệu L, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/6/2025, Vương Văn V đi theo đường tỉnh lộ 236 đến đường cua rẽ Pác Mạ, xã Y (nay là xã M) để tìm mua ma túy H về sử dụng. Đến nơi, Vương Văn V gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang, mặc áo chống nắng đen, đi xe nhãn hiệu RSX, không có biển kiểm soát, Vương Văn V hỏi mua ma túy, người này đồng ý. Vương Văn V mua 1.000.000đ (một triệu đồng) được 01 (một) túi nilon bên trong đựng ma túy. Vương Văn V cất túi ma túy vào cốp phụ phía trước của xe môtô rồi điều khiển xe đi về hướng thôn C, xã M, tỉnh Lạng Sơn. Khi Vương Văn V đi đến Trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu C2 thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện trong cốp xe mô tô ở phía trước có 01 (một) túi ma túy Heroin của Vương Văn V cất giấu với mục đích để sử dụng, lực lượng chức năng đã đưa Vương Văn V cùng tang vật, phương tiện về Trụ sở Ủy ban nhân dân xã M để lập biên bản, xác minh làm rõ.

Bản kết luận giám định số: 453/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Vương Văn V là heroin có khối lượng 1,903 gam.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch của bị cáo Vương Văn V, nhận thấy Vương Văn V có 01 (một) con gái tên là Vương Tuệ N, sinh ngày 14/10/2021 là con chung với chị Hoàng Diệu L. Vương Văn V khai nhận: Khoảng tháng 12/2020, Vương Văn V có quan hệ tình cảm với Hoàng Diệu L và phát sinh quan hệ tình dục với nhau (việc quan hệ tình dục giữa Vương Văn V và Hoàng Diệu L là đồng thuận) dẫn đến Hoàng Diệu L mang thai và sinh ra cháu Vương Tuệ N, sinh ngày 14/10/2021. Sau khi Hoàng Diệu L có thai, Vương Văn V và Hoàng Diệu L chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Căn cứ tài liệu điều tra đã thu thập được xét thấy tại thời điểm sinh cháu Vương Tuệ N, Hoàng Diệu L mới 15 tuổi 5 tháng 03 ngày. Cơ quan điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành thu thập mẫu tóc của Hoàng Diệu L, Vương Văn V, Vương Tuệ N để tiến hành xét nghiệm ADN phục vụ điều tra vụ án.

Kết luận giám định số HT520.25/PY-XNSH ngày 20/8/2025 của V1 kết luận: Hoàng Diệu L và Vương Tuệ N có quan hệ huyết thống mẹ con, Vương Văn V và Vương Tuệ N có quan hệ huyết thống cha con.

Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSKV5, ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Vương Văn V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Vương Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã viện dẫn ở trên, lời khai của Vương Văn V phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại cơ quan điều tra bị hại chị Hoàng Diệu L thừa nhận nội dung hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã truy tố và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vương Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vương Văn V từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tổng hợp hình phạt từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói (cũ); trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max; 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Vario; 01 (một) căn cước Công dân số 020099000826 mang tên Vương Văn V; 01 (một) giấy phép lái xe Hạng A1 số 200209003200 mang tên Vương Văn V do không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 14/6/2025 tại thôn C, xã M, tỉnh Lạng Sơn, Vương Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,903 gam ma túy heroin, mục đích là để bản thân sử dụng. Ngoài ra tháng 12/2020, Vương Văn V đã có hành vi quan hệ tình dục với Hoàng Diệu L, khiến Hoàng Diệu L có thai và sinh cháu Vương Tuệ N vào ngày 14/10/2021, khi đó Hoàng Diệu L mới 15 tuổi 5 tháng 03 ngày. Với các hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Vương Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Bị cáo nhận thức được ma túy H là chất gây nghiện cao, gây tổn hại nghiêm trọng đến trí tuệ, sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, các tội phạm khác. Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy nhưng vẫn thực hiện vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

Đối với hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, mặc dù bị cáo và bị hại Hoàng Diệu L có sự đồng thuận trong quan hệ tình dục nhưng bị hại còn đang trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi, bị cáo đã có hành vi quan hệ tình dục với bị hại khiến bị hại có thai và sinh con. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em được Nhà nước bảo vệ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị hại Hoàng Diệu L có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là Bế Văn T tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Tại quyết định số 90/QĐ-XPVPHC ngày 22/5/2018 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính đối với Vương Văn V về hành vi Huỷ hoại tài sản, phạt tiền 2.000.000 đồng (đã nộp 30/5/2018); Quyết định số 46 ngày 06/8/2020 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính đối với Vương Văn V về hành vi Đánh nhau, phạt tiền 750.000 đồng (đã nộp 17/8/2020) thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 1,767 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “ĐỒN BIÊN PHÒNG CỬA KHẨU CHI MA QT (Vương Văn V)” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T1, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, số Imei: 355216222092598, số I: 355216222364732, lắp sim số thuê bao 0868.701.657 (máy cũ đã qua sử dụng); 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Vario, không gắn BKS, màu xanh đen, số khung: MH1JA4659RK054937; số máy: JA69E-5055139 (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) căn cước Công dân số 020099000826 mang tên Vương Văn V; 01 (một) giấy phép lái xe Hạng A1 số 200209003200 mang tên Vương Văn V trả lại cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vương Văn V vào ngày 14/6/2025 tại khu vực thôn P, xã M, tỉnh Lạng Sơn, do Vương Văn V không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý trong vụ án này, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Vương Văn V phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vương Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 03 (ba) năm tù về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Hình phạt chung bị cáo Vương Văn V phải thi hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 14/6/2025.

3. Xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu, tiêu hủy 1,767 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “ĐỒN BIÊN PHÒNG CỬA KHẨU CHI MA QT (Vương Văn V)” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T1, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới.

3.2. Trả lại cho bị cáo 01 (một) căn cước Công dân số 020099000826 mang tên Vương Văn V; 01 (một) giấy phép lái xe Hạng A1 số 200209003200 mang tên Vương Văn V.01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, số Imei: 355216222092598, số I: 355216222364732, lắp sim số thuê bao 0868.701.657 (máy cũ đã qua sử dụng); 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Vario, không gắn BKS, màu xanh đen, số khung: MH1JA4659RK054937; số máy: JA69E-5055139 (cũ đã qua sử dụng).

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5

- Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2025).

4. Án phí: Bị cáo Vương Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ