vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 16/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ Vả P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vừ Vả P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 13/05/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ Vả Pó - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ Vả P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 16 - 09 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Ngọc Sáng

2. Bà Lý Thị The

- Thư ký phiên toà: Bà Mào Thị Chiến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS, ngày 15/08/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS, ngày 04/09/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vừ Vả P; sinh năm 1978 tại xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở trước khi bị bắt: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên (nay là xã M, tỉnh Điện Biên); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vừ Nhềnh X (đã chết) con bà Giàng Thị Đ, sinh năm 1956; Có vợ: Lầu Thị S, sinh năm 1978 và có 09 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc Trại giam Công an tỉnh L. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Anh: Vừ A C, sinh năm 1992

Địa chỉ: Bản M, xã X, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt tại phiên toà không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 13/5/2025, Vừ Vả P điều khiển xe máy nhãn hiệu ESPRO, loại 130W2, từ lán nương của gia đình tại khu vực giáp ranh giữa bản Pá Lùng, xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên (nay là xã M, tỉnh Điện Biên) đi ra điểm dân cư Xé Ma, bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu (nay là xã T, tỉnh Lai Châu) để tìm mua Heroine về sử dụng.

Khi đi đến gần điểm dân cư X, bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu (nay là xã T, tỉnh Lai Châu) Pó gặp một người phụ nữ dân tộc Mông (không rõ nhân thân, lai lịch). Qua trao đổi, P đã mua của người phụ nữ này 01 gói Heroine được gói bằng 02 lớp nilon màu hồng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được H, P cất gói ma túy vào túi quần bên trái đang mặc. Sau đó, P điều khiển xe máy vào một quán tạp hóa tại điểm dân cư Xé Ma để mua thức ăn mang về lán nương.

Đến hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi vừa mua xong thức ăn và chuẩn bị đi về, Pó thấy tổ công tác Công an xã T đang tuần tra gần đó đi tới. Do lo sợ bị phát hiện, P lấy gói Heroine trong túi quần bên trái đang mặc thả xuống đất ngay cạnh xe. Tổ công tác phát hiện hành vi trên, yêu cầu P nhặt lại gói ma túy. Pó khai nhận đó là H do P tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số: 398/KL - KTHS, ngày 15/5/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Vừ Vả P có khối lượng 0,84 gam (không phẩy tám mươi tư gam). Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Vật chứng đã được xử lý: 01 xe máy nhãn hiệu ESPRO, loại 130W2, không gắn biển kiểm soát, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Vừ A C, sinh năm 1992, trú tại bản Mường Tỉnh B, xã X, tỉnh Lai Châu. Anh C không biết việc bị cáo P lấy xe của mình sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, ngày 25/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại chiếc xe trên cho anh Vừ A C theo quy định.

Vật chứng còn lại của vụ án: 02 (hai) mảnh nilon màu hồng được niêm phong vào một phong bì thư do Công ty TNHH G phát hành, hiện đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT - VKS - KV4, ngày 14 tháng 08 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Vừ Vả P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số 261/BKL-CSMT ngày 04/8/2025 của CQCSĐT Công an tỉnh L và bản Cáo trạng nêu trên.

Tai phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vừ Vả P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vừ Vả P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 13/05/2025. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) mảnh nilon màu hồng được niêm phong vào một phong bì thư do Công ty TNHH G phát hành, Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong lấy mẫu vật gửi giám định của Vừ Vả P ngày 14 tháng 5 năm 2025. Mặt sau gói niêm phong các mép được dán kín và dán giấy niêm phong đè lên các mép được dán kín theo phong bì có chữ ký và ghi rõ họ tên của những người tham gia gồm: Giàng A K, Nguyễn Võ L, Giàng Thị D1, Đoàn Tất K1 và điểm chỉ ngón trỏ phải của Vừ Vả P. Ở đầu gói niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình mẫu dấu tròn đỏ của Công an thị trấn M.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Vừ Vả P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và lời khai không mâu thuẫn với bị cáo, nên việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điểm d khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 17 giờ 30 phút, ngày 13/05/2025, tại bản Nậm Dính, xã T, tỉnh Lai Châu, Vừ Vả P đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,84 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật có quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, C1, M, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi bị Công an xã T, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

02 (hai) mảnh nilon màu hồng được niêm phong vào một phong bì thư do Công ty TNHH G phát hành, đây là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Những vấn đề liên quan:

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán Heroien cho bị cáo, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về biện pháp ngăn chă ̣n: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chă ̣n tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 6, khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ Vả P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vừ Vả P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 13/05/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mảnh nilon màu hồng được niêm phong vào một phong bì thư do Công ty TNHH G phát hành.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04 tháng 09 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lai Châu).

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm lên Toà án nhân dân cấp trên. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Cỡ chữ