vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thế P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN THẾ P - Điều 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày: 13-8-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Ngọc Dũng

2/ Bà Huỳnh Thị Thuỳ Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15-Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết N – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thế P, sinh năm: 1976; tại tỉnh Bình Dương. CCCD: 074076001xxx, ngày cấp 25/4/2021, nơi cấp: Cục C - TTXH. Nơi cư trú: Số A đường P, Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị B (đã chết); có vợ là Trương Thị Kim H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án; tiền sự; nhân thân: Không. Bị bắt tạm giam ngày 13 tháng 8 năm 2025. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Minh V (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 1961. CCCD: 084061000xxx. Nơi cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long). Là cha ruột của bị hại.

2. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1958. CCCD: 084158001xxx. Nơi cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long). Là mẹ ruột của bị hại.

Người đại diện hợp pháp của ông Đ1 và bà B1: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1990. CCCD: 084190011xxx. Nơi cư trú: Số B, ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long). Là người đại diện theo uỷ quyền (giấy uỷ quyền ngày 20/11/2024). Có mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần X. Địa chỉ trụ sở: Số F đường P, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai). Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty C1. Địa chỉ trụ sở (địa chỉ liên hệ): Số D N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Ngọc Đ2. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 11/11/2024, Trần Thế P điều khiển xe ô tô khách, nhãn hiệu Hyundai, màu đen, số máy: RD574618D4CB, số khung: RLUUP37RPRD004710, biển số 50H-498.28 đi từ địa chỉ số H đường A, phường I, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, P điều khiển xe ô tô biển số 50H-498.28 lưu thông theo chiều đi bên phải của đường N, theo hướng từ đường M -T đến đường V đoạn thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, chiều đi này có đặt biển báo khu vực đông dân cư, biển báo dành cho người đi bộ qua đường, nhưng P điều khiển xe với tốc độ từ 73 km/h đến 75 km/h. Khi gần đến vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường thì P nhìn thấy ông Nguyễn Minh V đi bộ từ từ qua đường (đi từ hành lang an toàn đường bộ bên trái qua hành lang an toàn đường bộ bên phải của đường N, theo chiều đi xe của xe ô tô biển số 50H – 498.28) nhưng do khoảng cách gần nên P không xử lý kịp dẫn đến mặt bên trái của đầu xe ô tô biển số 50H - 498.28 va chạm với mặt bên phải người của ông Nguyễn Minh V, làm ông V bị thương bất tĩnh. Đến 05 giờ 05 phút ngày 12/11/2024, ông V tử vong tại bệnh viện.

* Theo Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11/11/2024 của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T và Biên bản dựng lại hiện trường ngày 13/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thể hiện: (Bút lục 13-16; 96-97)

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn mở hai đầu dãy phân cách có vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường, không có đèn tín hiệu giao thông, là một đoạn đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất của đường N. Mặt đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng và được chia thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau, phân biệt bằng dãy phân cách cứng cố định. Phần đường xảy ra tai nạn là chiều đi bên phải đường N theo hướng từ đường M - T về đường V, chiều đi này có 03 làn đường xe chạy, có chiều rộng mỗi làn đường lần lượt là 3m60, 3m90, 3m60 tính từ hành lang đường bộ ra dãy phân cách cứng cố định, phân biệt các làn đường bằng vạch kẻ đường, có đặt biển báo dành cho người đi bộ qua đường 423a,b và chiều đi này có đặt biển báo chia làn đường, có đặt biển báo khu dân cư, có đặt biển báo đường người đi bộ sang ngang.

+ Lấy trụ điện số 23 nằm trong hành lang an toàn đường bộ bên phải của đường N theo hướng từ đường M - T về đường V làm cột mốc cố định hiện trường.

+ Lấy mép đường bên phải đường N theo hướng từ đường M - T về đường V làm mép đường chuẩn.

Sau khi xảy ra tai nạn hiện trường để lại dấu vết sau:

Vị trí số 1: Xe ô tô dừng lại trên đường N, đầu xe hướng về đường V, đuôi xe hướng về đường M - T, tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 6m60, tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 6m70, cách cột mốc cố định hiện trường là 10m60 và cách đầu vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường là 19m50.

Vị trí số 2: Kích thước máu nằm trên đường N, cách tâm trục bánh trước bên trái là 2m20 và cách mép đường chuẩn là 10m90.

Vị trí số 3: Mảnh vỡ nằm trên đường N, cách tâm trục bánh sau bên trái là 12m70 và cách đầu vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường là 7m00, cách mép đường chuẩn là 10m10.

* Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập ngày 11/11/2024 của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T, thể hiện (Bút lục 17-18)

- Về dấu vết trên phương tiện xe ô tô biển số 50H - 498.28: Cản trước góc bên trái có dấu va chạm làm bể và trầy xước cao su theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước 20cm x 40cm cách mặt đất là 70cm; Cản trước hông bên trái có dấu va chạm làm gãy các khớp nối cao su theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước 03cm x 40cm cách mặt đất là 70cm; Cao su kết nối giữa cản trước với hệ thống đèn phía trước bên trái có dấu va chạm làm bể theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước 15cm x 30cm cách mặt đất là 85cm; Đèn chiếu sáng, đèn xin đường phía trước bên trái có dấu va chạm làm bể theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước 15cm x 40cm cách mặt đất là 100cm; Nấp ca pô trước có dấu va chạm làm thủng, móp kim loại theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước 60cm x 70cm cách mặt đất là 130cm; Hông bên trái đoạn phía trên bánh xe trước có dấu va chạm làm móp và trầy xước kim loại theo chiều từ trước về sau từ trên xuống dưới, kích thước 15cm x 15cm cách mặt đất là 130cm; Kính chắn gió phía trước ½ bên trái có dấu va chạm làm bể theo chiều từ trước về sau, kích thước 50cm x 70cm cách mặt đất là 170cm.

* Theo Bản kết luận giám định số 5589/KL-KTHS ngày 06/12/2024 Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: (Bút lục số 69).

- Dấu vết trượt xước mất bụi ở bên trái cản trước, vỡ khuyết cụm đèn gầm bên trái (ảnh 3) đầu xe ô tô biển số 50H-498.28, chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết xây xát da, tụ máu gối phải (ảnh 4) trên người tử thi Nguyễn Minh V.

- Dấu vết trượt xước, cong ép, vỡ khuyết cụm đèn trước bên trái, ốp đầu trái cản trước, góc trái phía trước nắp capo (ảnh 5) xe ô tô biển số 50H-498.28, chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết xây xát da, tụ máu bụng phải, hông phải (ảnh 6) trên người tử thi Nguyễn Minh V.

- Dấu vết vỡ khuyết, bám dính lông tóc, chất màu đỏ sẫm (máu) ở góc dưới bên trái kính chắn gió trước (ảnh 7) xe ô tô biển số 50H-498.28, chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết xây xát da, tụ máu, rách da vùng trán hai bên, má phải, môi, cằm (ảnh 8) trên người tử thi Nguyễn Minh V.

Dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 50H-498.28 và tử thi Nguyễn Minh V được hình thành theo cơ chế va chạm giữa mặt bên trái đầu xe ô tô biển số 50H-498.28 hướng từ trước về sau của xe ô tô với mặt bên phải người của tử thi Nguyễn Minh V hướng từ phải qua trái của tử thi, tạo ra dấu vết trên phương tiện và người.

Không đủ cơ sở để xác định vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa xe ô tô biển số 50H-498.28 và tử thi Nguyễn Minh V.

Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của xe ô tô biển số 50H-498.28 trước khi xảy ra tai nạn giao thông.

* Qua kiểm tra camera hành trình và hộp đen quản lý lộ trình tốc độ của xe ô tô biển số 50H-498.28, do Công ty Cổ phần X cung cấp báo cáo tốc độ của xe 50H-498.28 xác định: Tại thời điểm xảy ra va chạm giữa xe ô tô biển số 50H-498.28 với người đi bộ Nguyễn Minh V thì tốc độ của xe là: 74km/h (Bút lục số 126-129).

* Theo Bản kết luận giám định tử thi số 5361/KLGĐTT-KTHS ngày 15/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Minh V là do: Đa chấn thương. (Bút lục số 57, 58)

* Theo Bản kết luận giám số 5564/KL-KTHS (HPL) ngày 18/12/2024 kết luận: Khoảng 10ml máu của Nguyễn Minh V, đựng trong 01 lọ nhựa, nắp màu vàng được niêm phong gửi đến giám định: Có thành phần E (C). Nồng độ cồn 28,70mg/100ml. (Bút lục số 64)

* Căn cứ kết quả xét nghiệm ma túy và nồng độ cồn trong máu của Trần Thế P tại Bệnh viện Hoàn Mỹ tỉnh B: Nồng độ cồn: 0,000mg/1 lít khí thở và Ma túy: Âm tính. (Bút lục số 21, 22)

* Vật chứng thu giữ: (Bút lục số 41, 42)

- 01 xe ô tô biển số 50H-498.28;

- 01 giấy đăng kiểm đối với xe ô tô biển số 50H-498.28;

- 01 giấy phép lái xe hạng D số 740035000515 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/11/2023 có giá trị sử dụng đến ngày 02/11/2028;

* Xử lý vật chứng: (Bút lục số 74, 132).

- Xe ô tô khách biển số 50H – 498.28 là tài sản của Công ty C1-CNTPHCM nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông Nguyễn Văn H2 là người được ủy quyền. (Bút lục số 98, 99)

- 01 giấy phép lái xe hạng D số 740035000515 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/11/2023 có giá trị sử dụng đến ngày 02/11/2028 cho Trần Thế P, Cơ quan điều tra đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Trần Thế P và đại diện Công ty TNHH B2 đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc H1 là đại diện của bị hại Nguyễn Minh V số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 21/02/2025, bà H1 làm đơn bãi nại xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P và không còn yêu cầu bồi thường gì thêm (Bút lục số 118).

Cáo trạng số 117/CT-VKSTDM ngày 16/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố bị cáo Trần Thế P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01(một) Giấy phép lái xe hạng D số 740035000515 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/11/2023 có giá trị sử dụng đến ngày 02/11/2028 cho Trần Thế P. Xét thấy, đây là Giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho Trần Thế P và không cần thiết phải áp dụng quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự nên đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Thế P.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 11/11/2024, Trần Thế P điều khiển xe ô tô khách, nhãn hiệu Hyundai, màu đen biển số 50H – 498.28 lưu thông trên đường N đoạn thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) theo hướng từ đường M

- T đến đường V, chiều đi có đặt biển báo khu vực đông dân cư, biển báo dành cho người đi bộ qua đường. Khi đến vạch kẻ dành cho người đi bộ thì P nhìn thấy ông Nguyễn Minh V đi bộ từ lề trái sang lề phải nhưng do P điều khiển xe với tốc độ 74 km/h (tốc độ cho phép là 60km/h) nên không xử lý kịp dẫn đến mặt bên trái của đầu xe ô tô biển số 50H - 498.28 va chạm với mặt bên phải người của ông V, làm ông V tử vong.

Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã vi phạm khoản 4 Điều 11 và khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông phức tạp như hiện nay, là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nghiêm khắc nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ răng đe, giáo dục đối với bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D số 740035000515 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/11/2023 có giá trị sử dụng đến ngày 02/11/2028 cho Trần Thế P. Xét thấy, đây là Giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho bị cáo và không cần thiết phải áp dụng quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự nên trả lại cho bị cáo.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 268 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thế P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Thế P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2025.

2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Thế P 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D số 740035000515 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/11/2023 có giá trị sử dụng đến ngày 02/11/2028.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 138.25 ngày 16/6/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ