vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 14/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “ Hủy hoại rừng”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt chấp hành án. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận bị cáo Vàng A C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản rừng cho Nhà nước số tiền là 18.065.275 đồng (Mười tám triệu không trăm sáu mư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vàng A Chù - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “ Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 14/01/2025

NHÂ N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Khoàng Văn Sơn

2.Ông Chảo Phù Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối bị cáo:

Vàng A C sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968; tại xã Lùng Cải, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai; Nơi thường trú: Bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: 011068001219; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A K sinh năm 1937 (đã chết) và con bà Ma Thị M sinh năm 1950; Có vợ: Lý Thị T sinh năm 1968; Có 02 con lớn nhất 24 tuổi, nhỏ nhất 22 tuổi; Tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Vàng A C ngày 06 tháng 6 năm 2024 bị bắt tạm giam sau đó bỏ trốn nên đã bị truy nã đến ngày 08 tháng 8 năm 2024 bị cáo Vàng A C ra đầu thú. Ngày 08 tháng 8 năm 2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện Nậm Pồ ra lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú đến nay, có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: UBND xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Đại diện UBND xã là Ông Hờ A Lù Chủ tịch UBND, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ. Quyết định số: 32/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2024 của UBND xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ. Về cử đại diện tham gia tố tụng bà Lò Thị Thu Hiền Phó chủ tịch UBND. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lường Văn Bình. Sinh năm 1986. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi công tác: Hạt kiểm lâm huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện cho cộng đồng bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ,

tỉnh Điên Biên.

Anh Vàng A Sang. Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1979. Vắng mặt

Nơi cư trú: Bản Vàng Lếch, xã Nậm Pồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Anh Vàng A Chỉnh sinh ngày 15 tháng 10 năm 1978. Có mặt

Nơi thường trú: Bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Người làm chừng: Vàng A Mình sinh ngày 30 tháng 7 năm 2001. Vắng mặt.

Nơi thường trú: Bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Người bào chữa cho bị cáo Vàng A Chù: Bà Giàng Thị Nhung trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng.

- Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Vàng Thị Dính, sinh năm 1988.

Nơi thường trú: Bản Huổi Đáp, xã Nà Khoa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 01 năm 2024 bị cáo Vàng A C cầm theo 01 (một) con dao quắm (loại dao phát) một mình từ nhà ở bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên lên khu vực rừng thuộc tiểu khu 441, khoảnh 10 thuộc bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, được quy hoạch là rừng sản xuất theo Quyết định số 1208/QĐ – UBND ngày 21/12/2018 của UBND tỉnh Điện Biên, hiện đã được giao cho Cộng đồng dân cư bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, quản lý, bảo vệ. Mục đích chặt phá rừng lấy đất làm nương. Trước khi chặt phá bị cáo Vàng A C không hỏi các cấp chính quyền địa phương. Bị cáo Vàng A C đã dùng dao quắm để chặt phá rừng sau 06 (sáu) ngày thì chặt phá xong đám rừng. Còn 01 (một) cây gỗ to Vàng A Chù có nhờ Vàng A Chỉnh là người cùng bản dùng máy cưa xích cầm tay chặt hạ giúp.

Ngày 12 tháng 3 năm 2024 cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo đếm diện tích rừng bị chặt phá. Khu rừng bị cáo Vàng A C chặt phá thuộc tiểu khu 441, khoảnh 10, loại rừng sản xuất. Diện tích bị cáo Vàng A C chặt phá là 9.323,68m2, diện tích rừng trên do bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ quản lý bảo vệ. Đến ngày 15 tháng 9 năm 2024 Cơ quan chức năng đến xác định lại hiện trường diện tích Vàng A M thực hiện chặt phá là 1.457,3m2. Còn diện tích của Vàng A C thực hiện là 7.866,38m2.

Tại kết luận số 60/KL - GĐ ngày 19/11/2024 của giám định viên Tư pháp thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên kết luận: Diện tích rừng bị phá có diện tích là 7.866,38m2 đã được giao cho bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên quản lý bảo vệ. Kết luận trạng thái khu rừng bị chặt phá: Vị trí đám rừng bị phá nằm trong Tiểu khu 441, khoảnh 10 nêu trên là rừng tự nhiên, loại rừng sản xuất, trạng thái rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo kiệt (ký hiệu TXK).

Bản kết luận định giá tài sản số: 39/KL - HĐĐGTS ngày 08 tháng 11 năm 2024 kết luận: Khối lượng 10,541m3 gỗ tròn các loại từ nhóm V đến nhóm VIII có giá 15.811.500 đồng. Khối lượng 9,086m3 củi tận thu có giá 1.362.900 đồng. Dịch vụ bảo vệ môi trường rừng là 7.866,38m2 rừng sản xuất thuộc tiểu khu 441, khoảnh 10 số tiền là 890.875 đồng. Tổng tài sản định giá là 18.065.275 đồng (Mười tám triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm bảy mươi năm đồng).

Bản cáo trạng số: 02/CT-VKSNP ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Vàng A C để xét xử về tội: “Hủy hoại rừng” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 38; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Vàng A C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 243 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584; 585; 586 và Điều 589 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về rừng cho Nhà nước. Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Áp dụng Nghị Quyết 326 của UBTVQH khoá 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn toàn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bà Lò Thị Thu Hiền đại diện UBND xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ trình bày như sau: Khu rừng mà bị cáo Vàng A C ngày 15 tháng 9 năm 2024 Cơ quan chức năng đến xác định lại hiện trường diện tích là 7.866,38m2. Diện tích rừng trên do cộng đồng dân cư bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ quản lý và bảo vệ. Tổng tài sản định giá là 18.065.275 đồng (Mười tám triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm bảy mươi năm đồng). Do đó buộc bị cáo Vàng A C phải có trách nhiệm bồi thường cho Nhà nước theo quy định.

Anh Lường Văn Bình trình bày và các tài liệu đã thu thập được như sau: Ngày 12 tháng 3 năm 2024 Tổ công tác tiến hành đo đếm sơ bộ diện tích rừng bị chặt phá. Khu rừng mà bị cáo Vàng A C chặt phá thuộc; Tiểu khu 441, khoảnh 10, loại rừng sản xuất. Tổng diện tích ban đầu xác định bị cáo Vàng A C chặt phá là là 9.323,68m2 diện tích rừng trên do cộng đồng dân cư bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ quản lý và bảo vệ. Đến ngày 15 tháng 9 năm 2024 Cơ quan chức năng đến xác định lại hiện trường diện tích của Vàng A Mình thực hiện chặt phá là 1.457,3m2. Còn diện tích của Vàng A C thực hiện là 7.866,38m2. Tôi đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm tuyên tuyền về công tác bảo rừng cho nhân dân.

Anh Vàng A Sang trình bày và các tài liệu đã thu thập được như sau: Khu rừng bị chặt phá xảy ra tiểu khu 441, khoảnh 10 là rừng sản suất đã được giao cho bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ quản lý bảo vệ. Do tôi đi làm ăn ở xa nên khi rừng bị phá tôi không biết sau này tôi mới biết là ông Vàng A C và Vàng A Mình ở bản Huổi Tang, xã Nậm Tin chặt phá. Tôi mong cơ quan pháp luật xem xét cho ông Vàng A C và Vàng A Mình được hưởng sự khoan hồng. Tôi đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm tuyên tuyền công tác bảo vệ rừng cho nhân dân.

Anh Vàng A Chỉnh trình bày và các tài liệu đã thu thập được như sau: Vào cuối tháng 02 năm 2024 anh Vàng A C là người cùng bản có nhờ tôi giúp chặt cây gỗ to ở trong đám rừng vừa phát, tôi không biết đó là rừng sản xuất đã được quy hoạch bảo vệ. Khi chặt cây gỗ đó tôi dùng máy cưa xích cầm tay. Sau khi chặt gỗ xong máy cưa xích cầm tay đã bị hỏng nên tôi đã bán sắt vụn. Nay tôi biết việc làm của mình là sai kính mong cơ quan pháp luật khoan hồng.

Anh Vàng A Mình trình bày và các tài liệu đã thu thập được như sau: Vào khoảng đầu tháng 02 năm 2024 tôi mới đi phát 01 (một) đám nương cạnh nhà ông Vàng A C khi đi phát tôi có mang theo 01 (một) con dao quắm và 01 (một) mày cưa xích cầm tay. Sau khi phát xong thì máy cưa đã hỏng và đã bán sắt vụn, còn con dao phát bị hỏng nên tôi đã vứt đi, tôi không nhớ rõ vị chí ở đâu. Ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại tiểu khu 441, khoảnh 10 rừng sản xuất khi khám nghiệm hiện trường đo tổng diện tích là 9.323,68m2. Đến ngày 15 tháng 9 năm 2024 Cơ quan chức năng đến xác định lại hiện trường diện tích tôi Vàng A Mình thực hiện chặt phá là 1.457,3m2. Còn diện tích của ông Vàng A C thực hiện là 7.866,38m2. Tôi Vàng A Mình biết việc làm của tôi là sai.

Người bào chữa cho bị cáo Vàng A C không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo Vàng A C đã ra đầu thú, bị cáo Vàng A C đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại 18.065.275 đồng cho Nhà nước. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Vàng A C mức hình phạt thấp nhất đề nghị của Viện kiểm sát; đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; không áp dụng khoản 4 Điều 243 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Vàng A C nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định. Vào khoảng cuối tháng 01 năm 2024 bị cáo Vàng A C cầm theo 01(một) con dao quắm (loại dao phát) một mình từ nhà ở bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên lên khu vực rừng thuộc tiểu khu 441, khoảnh 10 thuộc bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, được quy hoạch là rừng sản xuất theo Quyết định số 1208/QĐ – UBND ngày 21/12/2018 của UBND tỉnh Điện Biên, hiện đã được giao cho Cộng đồng dân cư bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ, quản lý, bảo vệ. Mục đích chặt phá rừng lấy đất làm nương. Trước khi chặt phá bị cáo Vàng A C không hỏi các cấp chính quyền địa phương. Bị cáo Vàng A C đã dùng dao quắm để chặt phá rừng sau 06 (sáu) ngày thì chặt phá xong đám rừng. Còn 01 (một) cây gỗ to Vàng A C có nhờ Vàng A Chỉnh là người cùng bản dùng máy cưa xích cầm tay chặt hạ giúp.

Bị cáo Vàng A C đã thực hiện hành vi chặt phá rừng, công cụ sử dụng là 01 (một) con dao quắm để chặt phá rừng sau 06 (sáu) ngày thì chặt phá xong đám rừng đã gây thiết hại về rừng với diện tích là 7.866,38m2. Tổng giá trị thiệt hại về rừng cho Nhà nước số tiền là 18.065.275. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A C đã phạm tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại b khoản 1 Điều 243 BLHS.“Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Điểm b; Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);

Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Vàng A C về tội “ Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Vàng A C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Nhà nước với số tiền là 18.065.275 đồng (Mười tám triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm bảy mươi năm đồng). Bị cáo Vàng A C đã ra đầu thú đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Vàng A C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của BLHS.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về hủy hoại rừng, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hủy hoại rừng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý, bảo vệ rừng, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Vàng A C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS có căn cứ nên được áp dụng. Đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội do đó HĐXX chấp nhận.

Đối với anh Vàng A Chỉnh có hành vi dùng máy cưa xích cầm tay để chặt cây gỗ trong đám rừng giúp ông Vàng A C, quá trình điều tra xác định anh Vàng A Chỉnh không biết đã được quy hoạch vào rừng, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý Vàng A Chỉnh trong vụ án. Do đó HĐXX chấp nhận ý kiến trên của Cơ quan điều tra.

Đối với anh Vàng A Mình trú tại bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ có hành vi “ Huỷ hoại rừng” được xác định là 1.457,3m2 rừng sản xuất thuộc tiểu khu 441, khoảnh 10 do Cộng đồng dân cư bản Vàng Lếch, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ quản lý và bảo vệ. Xét hành vi của Vàng A Mình không cấu thành tội phạm, nên cơ quan điều tra Công an huyện Nậm Pồ đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu liên quan đến Hạt kiểm lâm huyện Nậm Pồ để xử lý Vàng A Mình theo quy định. Do đó HĐXX chấp nhận ý kiến trên của Cơ quan điều tra.

Xét về lời trình bày của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng với các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX xử xét thấy cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 BLHS “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ ”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584; 585; 586 và Điều 589 BLDS. Buộc bị cáo Vàng A C phải bồi thường số tiền là: 18.065.275 đồng. HĐXX xét thấy ghi nhận bị cáo Vàng A C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản rừng cho Nhà nước số tiền là 18.065.275 đồng đã nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao quắm dài 93 cm, chiều rộng nhỏ nhất 05cm chiều rộng lớn nhất 4,5cm, cán dao bằng gỗ dài 51cm, đường kính 03cm mà Vàng A C sử dụng để chặt phá rừng không còn giá trị sử dụng.

Đối với toàn bộ sản lượng gỗ, củi tận thu ở hiện trường tiểu khu 441, khoảnh 10 thuộc bản Huổi Tang, xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ có khối lượng là 10,541m3 và khối lượng 9,086m3 củi tận thu do chi phí vận chuyển về bảo quản vượt quá giá trị bán đấu giá. Hạt kiểm lâm huyện Nậm Pồ đã giao cho UBND xã Nậm Tin, huyện Nậm Pồ quản lý bảo vệ và cho tự phân hủy để cải tạo đất rừng.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Gia đình bị cáo Vàng A C có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã cấp. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Áp dụng Điều 38; điểm b, s khoản 1; 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự;

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “ Hủy hoại rừng”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt chấp hành án.

3.Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận bị cáo Vàng A C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản rừng cho Nhà nước số tiền là 18.065.275 đồng (Mười tám triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm bảy mươi năm đồng) để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao quắm dài 93 cm, chiều rộng nhỏ nhất 05cm chiều rộng lớn nhất 4,5cm, cán dao bằng gỗ dài 51cm, đường kính 03cm mà Vàng A C sử dụng để chặt phá rừng không còn giá trị sử dụng là vật chứng vụ án Vàng A C. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Vàng A C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14 tháng 01 năm 2025).

Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án; quyết định của Tòa án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ