vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 21/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 30/12/2024. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 21-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy

Ông Vàng Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Huyện M, tỉnh Điện Biên.

- Công chức hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần: ông Lò Văn Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 21/3/2025 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân Huyện M, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 05/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:

Giàng A C; Sinh ngày 15/7/1984 tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản CG 1, xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A S ( Đã chết) và bà Lý Thị M (Đã chết); Có vợ là Vàng Thị V, sinh năm 1985 và có 06 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/12/2024, tạm giam từ ngày 04/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Giàng Thị N, sinh năm 1987. Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giàng A C là người nghiện chất ma túy từ năm 2008. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 30/12/2024 Giàng A C điều khiển xe máy HONDA BLADE, biển kiểm soát 27B2-027.53 từ nhà ở bản CG 1, xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên để đưa con trai là Giàng A Dình C, sinh năm 2014 đến trường tiểu học N số 2 ở bản Huổi H, xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên. Sau khi đưa con trai vào trường, Giàng A C để xe máy ở ngoài cổng trường rồi đi bộ theo đường quốc lộ 4H theo hướng Xã Q đi xã N để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi được 50 mét thì C gặp một người đàn ông dân tộc Dao không rõ lai lịch, qua trao đổi C mua được 01 gói Heroine với số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu không rõ, còn C cất giấu gói Heroine vào túi quần bên trái để mang về sử dụng. Khoảng 18 giờ cùng ngày khi Giàng A C điều khiển xe máy đến cuối bản H, xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn biên phòng N và Công an xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa cục chất bột màu trắng, Giàng A C khai nhận là Heroine. Đồng thời thu giữ của Giàng A C chiếc xe máy cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy kèm theo mang tên Sùng Thị M1.

Tại Kết luận giám định số 24/KL-KTHS ngày 03/01/2025, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Giàng A C có khối lượng 0,44 gam chất bột màu trắng dạng nén là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định còn lại 0,39 gam, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Trong quá trình điều tra đã làm rõ chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu xe đỏ đen, loại xe mô tô hai bánh, số máy JA36E0771323, số khung 3658KY017736, dung tích 109 cm3, biển kiểm soát 27B2- 027.53, có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 100168 mang tên Sùng Thị Mỷ là tài sản cá nhân của Giàng A C mua lại ở cửa hàng bán xe máy cũ.

Bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-MN ngày 03/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,39 gam Heroine còn lại sau giám định và 01 (một) mảnh nilon màu xanh; tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe máy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Blade, BKS: 27B2-027.53 kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 100168. Về án phí áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và các Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nhất trí với Cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng, việc miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ và nhân thân để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không có ý kiến bổ sung vào Bản Luận cứ bào chữa, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Vào hồi 18 giờ ngày 30/12/2024 tại bản H, xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên, tổ công tác Đồn Biên phòng N phối hợp với Công an xã N, Huyện M, tỉnh Điện Biên đã kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Giàng A C đang thực hiện hành vi cất giấu trái phép trong túi quần bên trái 0,44 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, không có chứng cứ chứng minh bị cáo không phạm tội. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Giàng A C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với khối lượng 0, 44 gam Heroine.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những tiếp tay cho tội phạm về ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các loại tội phạm hình sự khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt đối với bị cáo: Từ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời hạn nhất định để bị cáo cải tạo bản thân đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở mức đề nghị của Viện kiểm sát để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Nhưng xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, nghề nghiệp của bị cáo là nông nghiệp nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng 0,44 gam Heroine thu giữ của Giàng A C sau khi gửi giám định còn lại 0,39 gam là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu xanh dùng gói Heroine là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu xe đỏ đen, loại xe mô tô hai bánh, số máy JA36E0771323, số khung 3658KY017736, dung tích 109 cm3, biển kiểm soát 27B2- 027.53 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 100168) là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về xử lý các vật chứng trong vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận (Bút lục số 54) và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ khoản khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và bị cáo, người bào chữa về việc miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vấn đề liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Dao đã bán Heroine cho bị cáo do cơ quan điều tra không xác minh được lý lịch nên không đủ cơ sở để xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa và bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 30/12/2024.

3.Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đựng 0,39 gam Heroine còn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong đựng 01 (một) mảnh nilon màu xanh.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy thu giữ của Giàng A C nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu xe đỏ đen, loại xe mô tô hai bánh, số máy JA36E0771323, số khung 3658KY017736, dung tích 109 cm3, biển kiểm soát 27B2- 027.53 và giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 100168 kèm theo.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Huyện M, tỉnh Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/03/2025).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/3/2025)

Cỡ chữ