- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Lê Quốc K. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/HS-PT Ngày 28 - 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Thanh Gia
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Lê Quốc K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2025/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai)
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Lê Quốc K, sinh ngày 12/3/1992 tại tỉnh Khánh Hòa; số căn cước công dân: 056092002619; nơi cư trú: Số D đường T, phường Q, tỉnh Gia Lai (địa chỉ trước đây là: Số D đường T, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định); nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N, sinh năm: 1960 và bà Lê Thỵ Q, sinh năm: 1962; vợ: Lê Thị Kim T, sinh năm: 1998; con: Có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 55 phút ngày 22/11/2024, Phạm Lê Quốc K (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93Y1-038.51 đi từ nơi cư trú (Số D đường T, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định – nay là: Số D đường T, phường Q, tỉnh Gia Lai) đến Công ty S (Số A đường Đ, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định – nay là: Số A đường Đ, phường Q, tỉnh Gia Lai) để làm việc. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đi đến đoạn Nghĩa trang liệt sĩ trên đường T thì thấy một người đàn ông (không xác định được lai lịch) điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía trước để áo mưa bị quấn vào bánh xe. K đã điều khiển xe mô tô trên vượt lên nhắc nhở người đàn ông này và sau đó, K điều khiển xe mô tô đi theo hướng Bắc – N trên đường T nhưng đánh mặt sang phải để nhìn lại về phía sau xem người đàn ông trên có dừng xe lại để xử lý hay không. Lúc này, có bà Phạm Thị C đang đi bộ băng qua đường đoạn trước Công ty T1 ở số A đường T, đoạn Km8+550 Quốc lộ A, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là phường Q, tỉnh Gia Lai) theo hướng Đ – Tây (từ trái sang phải so với chiều di chuyển của K). Do không chú ý quan sát đoạn đường phía trước, K không phát hiện thấy bà C đang đi bộ qua đường. Đến khi K quay đầu nhìn lại về phía trước thì phát hiện bà C ở trước đầu xe mô tô do K điều khiển. Do khoảng cách quá gần, K đã không kịp xử lý né tránh nên phần đầu, bên trái xe mô tô va chạm vào người bà C gây tai nạn. Hậu quả, bà C bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B (nay là tỉnh Gia Lai) và đến 17 giờ 10 phút cùng ngày thì chết.
Theo Kết luận giám định tử thi số 359/KLGĐTT-PYBĐ ngày 27/11/2024, Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Gia Lai) kết luận: Nguyên nhân chết của bà C là do chấn thương gây vỡ sọ, chảy máu nội sọ đa điểm chèn ép não, đa thương tích điều trị không hồi phục.
K đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà C số tiền 60.000.000 đồng và đại diện gia đình bà C đã có đơn xin bãi nại, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2025/HS-ST ngày 09/5/2025, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai) đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo K 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 16/5/2025, bị cáo Phạm Lê Quốc K kháng cáo xin được hưởng án treo và tại phiên toà, bị cáo K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo K 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
2
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 22/11/2024 tại đoạn đường phía trước Công ty T1 ở số A đường T, đoạn Km8+550 Quốc lộ A, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là phường Q, tỉnh Gia Lai) đã xảy ra tai nạn giao thông giữa xe mô tô biển kiểm soát 93Y1-038.51 do Phạm Lê Quốc K điều khiển (K có giấy phép lái xe hạng A1) với bà Phạm Thị C. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do K thiếu chú ý quan sát, để xe va chạm với bà C đang đi bộ băng qua đường. Hậu quả, bà C bị thương được đưa đi cấp cứu và đến 17 giờ 10 phút cùng ngày thì chết.
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai) đã xét xử bị cáo Phạm Lê Quốc K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Làm chết người” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Phạm Lê Quốc K, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng cho người khác nên cần phải xử lý nghiêm nhằm phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn giao thông.
Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và đại diện gia đình bị hại đã có đơn bãi nại, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là phường Q, tỉnh Gia Lai) xác nhận; có đơn của gia đình bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình và có đơn xác nhận của Công ty cổ phần D về quá trình làm việc của bị cáo tại Công ty là luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, tuân thủ nội quy lao động và có thái độ làm việc nghiêm túc. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo K 09 tháng tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù do bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
3
dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo K, sửa bản án sơ thẩm.
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Phạm Lê Quốc K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Phạm Lê Quốc K, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Lê Quốc K. Sửa bản án sơ thẩm.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Lê Quốc K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 28/7/2025).
Giao bị cáo Phạm Lê Quốc K cho Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Lê Quốc K không phải chịu.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND khu vực 1 – Gia Lai; - VKSND khu vực 1 – Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 1 – Gia Lai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án. 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Văn Thanh Gia |