- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tran thai thuy d - nguyen q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tran Thai Thuy D đối với ông Nguyen Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31-3-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH D
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 476/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Tran Thai Thuy D, sinh năm 1991; địa chỉ: Số D, đường ĐX 82, Khu phố 2, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyen Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A, đường L, Khu phố 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Tran Thai Thuy D trình bày:
Bà Tran Thai Thuy D và ông Nguyen Q kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Định Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại nhà của ba mẹ ruột bà Tran Thai Thuy D tại số 73, đường ĐX 82, Khu phố 2, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến năm 2022, vợ chồng mua nhà riêng và chuyển đến sinh sống tại số A, đường L Khu phố 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình D. Khoảng năm 2023, bà Tran Thai Thuy D và ông Nguyen Q bắt đầu phát sinh mẫu thuẫn do vợ chồng không còn tiếng nói chung, ông Q không lo làm ăn mà chỉ lo ăn chơi, uống rượu, không phụ bà D chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên bà D và con đã chuyển về nhà cha mẹ ruột bà D sinh sống. Bà D và ông Q đã ly thân từ năm 2023 đến nay nhưng không hàn gắn được, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyen Q.
Bà Tran Thai Thuy D và ông Nguyen Q có 01 con chung tên Nguyen Ngoc An A, sinh ngày 23/01/2014. Hiện nay cháu An đang sinh sống cùng với bà D và đi học tại trường tiểu học Định Hoà. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyen Q: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyen Q không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D không có yêu cầu phản tố đối với vụ án.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Tran Thai Thuy D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Nguyen Q đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần hai nhưng vắng mặt không có lý do.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ngày 25/11/2024, bà Tran Thai Thuy D có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyen Q nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyen Q sinh sống tại phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn bà Tran Thai Thuy D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyen Q đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Tran Thai Thuy D và ông Nguyen Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND phường Định Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyển số 02/2011, ngày 31 tháng 12 năm 2011 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Bà Tran Thai Thuy D trình bày: Bà D và ông Q phát sinh mâu thuẫn do ông Q không lo làm ăn và không phụ giúp gia đình. Hiện nay vợ chồng đã ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyen Q. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyen Q để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông Q không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, điều này chứng tỏ ông Q không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà Tran Thai Thuy D và ông Nguyen Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tran Thai Thuy D về việc ly hôn với ông Nguyen Q.
Về con chung: Bà Tran Thai Thuy D và ông Nguyen Q có 01 con chung là cháu Nguyen Ngoc An A, sinh ngày 23/01/2014. Hiện nay cháu A đang sống cùng với bà D và có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Do đó, việc giao cháu A cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Tran Thai Thuy D không yêu cầu ông Nguyen Q cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy, quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Tran Thai Thuy D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng); ông Nguyen Q không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tran Thai Thuy D đối với ông Nguyen Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tran Thai Thuy D được ly hôn đối với ông Nguyen Q.
- Về con chung: Giao cháu Nguyen Ngoc An A, sinh ngày 23/01/2014 cho bà Tran Thai Thuy D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Tran Thai Thuy D không yêu cầu ông Nguyen Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung chưa thành niên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Tran Thai Thuy D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008687 ngày 05/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình D; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - CCTHADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND P. Định Hoà; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nga |