- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoa -Dũng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Phạm Thị H đối với ông Trần Trọng D.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:30/2025/HNGĐ-ST Ngày 10.09.2025. (V/v Ly hôn, nuôi con) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ.
Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 05 năm 2025 về “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H - sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ A, phường L, TP .. có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Trọng D – sinh năm 1976; địa chỉ: K N, phường H,TP. Đà Nãng, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn xin ly hôn gửi đến Tòa án ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại bản tự khai ngày 28 tháng 7 năm 2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng bà Phạm Thị H và Trần Trọng D kết hôn năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (nay thuộc phường L - Đà Nẵng), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, nguyên nhân do ông D thường xuyên uốn rượu bia, đánh đập dùng dao rượt đuổi mẹ con bà ra khỏi nhà, năm 2017 có sự xô sát nhau và bà đã báo công an đị phương đến giải quyết 02 lần nhưng ông D vẫn không thay đổi tính cách, khiến bà H rất hoảng loạn tinh thần, dẫn đến Stress; nên bà H đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông D.
- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung là Trần Trọng H1 – sinh ngày 31 tháng 03 năm 2004 và Trần Trọng N – sinh ngày 16 tháng 01 năm 2014. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Trọng N và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Trần Trọng H1 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.
- Về quan hệ chia tài sản: Không có tài sản chung và nợ chung.
* Bị đơn Trần Trọng D: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D đã được Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, ông không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa, tuy nhiên ông có bản trình bày đề nghị xét xử vắng mặt ông và ông có ý kiến là không đồng ý ly hôn với bà H.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 phát biểu: Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý, thời hạn giải quyết và việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các điều 195, 196 và 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án tống đạt hợp lệ theo quy định. Do đó, quyền và nghĩa vụ của bị đơn đã được thực hiện đầy đủ theo quy định tại các điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho Bà H được ly hôn với ông D;
Về con chung giao con Trần Trọng N – sinh ngày 16 tháng 01 năm 2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Trần Trọng H1 đã đủ 18 tuổi nên đề nghị HĐXX không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nơi cư trú của ông Trần Trọng D; địa chỉ: K N, phường H,TP. Đà Nãng; thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Trọng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ ông D có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt ông nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Trần Trọng D tự nguyện kết hôn vào năm 2003, đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (nay thuộc phường L - Đà Nẵng); Hôn nhân giữa bà H và ông D đảm bảo các điều kiện cũng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H kiên quyết xin ly hôn với ông D, vì lý do bà cho rằng đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân chính là do ông D say xỉn, đánh đạp vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được, hiện nay vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 đến nay không ai chăm sóc và quan tâm đến nhau. Nay bà H không còn tình cảm nữa, nên đề nghị Tòa án cho bà H ly hôn với ông Trần Trọng D.
HĐXX căn cứ vào lời khai của bà H cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Biên bản xác minh ngày ngày 07/8/2025 thể hiện bà H và ông D đã có phát sinh mâu thuẫn như lời trình bày của bà H.
Đối với ông D mặc dù Tòa án triệu tập nhiều lần để hòa giải, để hàn gắn hạnh phúc gia đình, ông D có gửi ý kiến không đồng ý ly hôn nhưng ông D không có thiện chí để níu kéo hạnh phúc gia đình, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, điều này chứng minh tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin ly hôn với ông D là có cơ sở, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị H và ông Trần Trọng D.
[2.2] Về quan hệ con chung: vợ chồng ông D bà H có 02 con chung là Trần Trọng H1 – sinh ngày 31 tháng 03 năm 2004 và Trần Trọng N – sinh ngày 16 tháng 01 năm 2014. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Trọng N và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung; cháu N hiện nay đang ở với bà H và có bản trình bày mong muốn được ở với bà H HĐXX xét thấy có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Đối với con chung Trần Trọng H1 đã đủ 18 tuổi, bà H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[2.3] Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị H xác định vợ chồng không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đánh giá phù hợp với nhận định Tòa án nên cần được chấp nhận lời đề nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Phạm Thị H đối với ông Trần Trọng D.
Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Trần Trọng D.
2. Về quan hệ con chung: Giao con Trần Trọng N – sinh ngày 16 tháng 01 năm 2014 cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng và ông D không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với con chung Trần Trọng H1 đã đủ 18 tuổi bà H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị H xác định vợ chồng không có, nên HĐXX không đề cập giải quyết.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng Bà Phạm Thị H phải chịu, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông H2 đã nộp theo biên lai thu số 7589 ngày 08/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng (Bà H đã nộp đủ).
5. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng Trần Trọng D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Khu vực 4; - UBND phường Liên Chiểu; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã Ký Nguyễn Đức Hoàng |