- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Huỳnh Thị Mỹ L - Võ Hữu D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Võ Hữu D như sau:
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-9-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo;
Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 130/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyếtđưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh ngày 01/01/1984; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: tổ E, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Hữu D, sinh ngày 09/01/1980; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: tổ E, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/4/2025,lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ L và ông Võ Hữu D tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2004, quyển số 01 ngày 16/01/2004.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và quan tâm đến nhau. Thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi và không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Bà L nhận thấy đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng không ai còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông D.
Về con chung: Vợ chồng có ba người con chung tên Võ Duy B, sinh ngày 08/9/2002, Võ Thị Tuyết N, sinh ngày 26/8/2005 và Võ Duy P, sinh ngày 13/11/2012. Khi ly hôn bà L yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Võ Duy P vì nguyện vọng của cháu P mong muốn sống chung với bà L. Riêng con chung tên Võ Duy B và Võ Thị Tuyết N đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Hữu D vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về nội dung: Bà Huỳnh Thị Mỹ L và ông Võ Hữu D có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân bà L yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Về con chung giao cho bà L nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Mỹ L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Võ Hữu D nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Võ Hữu D có địa chỉ tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Huỳnh Thị Mỹ L có đơn xin vắng mặt. Ông Võ Hữu D đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ L và ông Võ Hữu D là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2004, quyển số 01 ngày 16/01/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà L yêu cầu ly hôn với ông D do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và vợ chồng hiện nay không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
Về con chung: Bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Duy P, sinh ngày 13/11/2012 và nguyện vọng cháu Võ Duy P muốn sống chung với bà L. Riêng con chung tên Võ Duy B, sinh ngày 08/9/2022 và Võ Thị Tuyết N, sinh ngày 26/8/2005 đã thành niên nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, yêu cầu của bà L là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của bà L.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Võ Hữu D như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ L được ly hôn với ông Võ Hữu D.
- Về con chung: Giao con chung tên Võ Duy P, sinh ngày 13/11/2012 cho bà Huỳnh Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị Mỹ L không yêu cầu ông Võ Hữu D cấp dưỡng nuôi con.
Bà Huỳnh Thị Mỹ L và ông Võ Hữu D đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002586 ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND phường Tân Khánh, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thêm |