vanban.org

Bản án 30/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Phú Phi L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Nguyễn Phú Phi L số tiền 50.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Phú Phí Linh - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Phú Phi L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HSST
Ngày 12/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Hồng

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Ông Y Míp Niê

Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Nông Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trần Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXX-HS ngày 22/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 04/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phú Phi L

Sinh năm: 1963; tại tỉnh Quảng Ngãi

Nơi cư trú và chỗ ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố 4, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ.

Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú H (đã chết) và bà Huỳnh Thị C (đã chết); vợ là Nguyễn Thị L (sinh năm 1965); có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1993); tiền án: có 01 tiền án về tội đánh bạc, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ xử phạt 08 tháng tù tại Bản án số 277/2022/HSPT ngày 24/11/2022; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 6/02/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Phạm Thị Thúy L - vắng mặt

Địa chỉ: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ.

+ Ông Nguyễn Quý G - vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.

+ Ông Phan Quang T - vắng mặt

Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện K, tỉnh Đ.

+ Bà Nguyễn Thị L - vắng mặt

Địa chỉ: TDP 4, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ.

+ Bà Trần Thị Ái Hoa - vắng mặt

Địa chỉ: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Phú Phi L đã có 01 tiền án về tội đánh bạc, bị Tòa ánh nhân dân tỉnh Đ xử phạt 08 tháng tù theo Bản án số 277/2022/HSPT; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích. Khoảng 10 giờ ngày 09/01/2024 bị cáo L đang ở nhà thì có Phan Thị Thúy L, Nguyễn Quý G, Phan Quang T và Trần Thị Ái H cùng đến nhà bị cáo L để uống cà phê (nhà L bán quán cà phê). Tại đây các đối tượng G, L, T, L cùng rủ nhau chơi bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “phỏm”. Sau khi các đối tượng cùng thống nhất chơi thì bị cáo L dẫn các đối tượng G, L, T và H lên căn phòng trên lầu 2 nhà L để chơi đánh bài “phỏm”; L, G, L, T cùng chơi với nhau, còn H ngồi ngoài xem.

Cách thức chơi “phỏm” như sau: Các đối tượng dùng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá để chơi. Mỗi người chơi được chia 9 lá bài, riêng người chia bài được chia 10 lá bài, những lá bài còn lại được xếp chồng ở giữa cho những người chơi lần lượt bốc xoay vòng cho đến khi hết bài. Người có 10 lá bài đánh cho người kế bên 1 lá, người kế bên có thể “ăn” để tạo phỏm hoặc bốc 01 lá bài trên chiếu. Khi “ăn” hoặc bốc bài thì người chơi đánh cho người kế bên 01 lá bài cho người kế tiếp, cứ như vậy cho đến khi hết bài trên chiếu. Ván bài kết thúc khi có người “ù” hoặc không ai “ù” thì tính điểm. Điểm của mỗi người chơi tính bằng cách cộng các quân bài lại với nhau từ 1 đến 13 tương ứng với các lá bài Át, 1, 2, 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 , 1 0 , J , Q , K người nào ít điểm nhất là người thắng; nếu người không có „phỏm” nào thì gọi là “cháy‟. “Phỏm” là sự kết hợp của ít nhất 3 lá bài trở lên cùng loại cơ, rô, chuồn, bích mà có số thứ tự liên tiếp hoặc 3, 4 lá bài giống nhau. “Ù” là 9 lá bài trên tay người chơi đều tạo thành “phỏm” không lẻ lá bài nào, “ù tròn” là 10 lá bài trên tay người chơi chơi đều tạo thành “phỏm” không lẻ lá bài nào. Quá trình chơi các bị can thống nhất người nào thắng (ít điểm nhất) sẽ ăn của người về ít điểm thứ hai 10.000 đồng, ăn của người về ít điểm thứ ba 20.000 đồng, ăn của người về ít điểm thứ tư 30.000 đồng, nếu người nào “cháy” thì mất 40.000 đồng. Người nào “ù‟ hoặc có tứ quý (tức là 4 con bài cùng số, cũng chữ) thì ăn của mỗi người kia 50.000 đồng; trong quá trình chơi không có ai thu tiền xâu. Bị cáo L và các đối tượng chơi đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng đã thu giữ gồm: Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 500.000 đồng, thu giữ trên người G 500.000 đồng, thu giữ trên người L 450.000 đồng, thu giữ của chị Trần Thị Ái H số tiền 2.600.000 đồng; 01 chiếc chăn và 01 bộ bài tú lơ khơ.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chứng minh được tổng số tiền mà bị cáo cùng với các đối tượng đã sử dụng để đánh bạc là 1.450.000 đồng, trong đó: số tiền của L là 450.000 đồng, của L 600.000 đồng, của G 400.000 đồng, T không mang theo tiền nhưng trong quá trình chơi T đều thắng nên không phải chung tiền.

Đối với số tiền 2.600.000 đồng thu giữ trên người chị Trần Thị Ái H là người ngồi xem, chị H không tham gia đánh bạc và cũng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Nguyễn Phú Phi L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, sau khi trình bày luận tội và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú Phi L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Phú Phi L số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, sung công quỹ Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.450.000 đồng mà bị cáo và các đối tượng đã sử dụng để đánh bạc.

Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chăn và 01 bộ bài tú lơ khơ.

Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã trả lại cho chị Trần Thị Ái H số tiền 2.600.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án: Vào khoảng 15 giờ ngày 09/01/2024 tại nhà Nguyễn Phú Phi L ở Tổ dân phố 4, thị trấn K, huyện K. Nguyễn Phú Phi L đã từng bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài “phỏm” thắng thua bằng tiền cùng với Phan Thị Thúy L, Nguyễn Quý G, Phan Quang T. Tổng số tiền mà bị cáo cùng với các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 1.450.000 đồng.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Phú Phi L đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng và gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng việc đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền hoặc hiện vật dưới mọi hình thức là vi phạm pháp luật, thế nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên vào ngày 09/01/2024, bị cáo đã đánh bạc bằng hình thức chơi bài “phỏm” cùng với Phan Thị Thúy L, Nguyễn Quý G, Phan Quang T. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án nghiêm là cần thiết; nhằm giáo dục bị cáo trở thành người công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và qua đó cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong cộng đồng. Tuy nhiên, xét thấy số tiền mà bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc không lớn chỉ có 1.450.000 đồng; hình thức sát phạt là chơi bài “phỏm”; mục đích phạm tội để thu lợi bất chính; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo.

. Đối với các đối tượng: Phan Thị Thúy L, Nguyễn Quý G, Phan Quang T cùng tham gia đánh bạc với bị cáo. Tuy nhiên, số tiền mà bị cáo L và L, G, T dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; các đối tượng L, G, T đều chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Phan Thị Thúy L, Nguyễn Quý G, Phan Quang T về hành vi đánh bạc trái phép là đúng quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.450.000 đồng, đây là số tiền mà bị cáo và các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 chiếc chăn và 01 bộ bài tú lơ khơ, đây là công cụ bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc không còn gí trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 2.600.000 đồng thu giữ của chị Trần Thị Ái H. Số tiền này chị H không tham gia, sử dụng vào đánh bạc, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H là đúng pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo không thuộc đối tượng được miễn án phí, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Phú Phi L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Phú Phi L số tiền 50.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.450.000 đồng. Đây là số tiền mà bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc.

Công nhận Cơ quan cảnh sat điều tra điều tra Công an huyện Krông Năng đã trả lại cho chị Trần Thị Ái H số tiền 2.600.000 đồng.

Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chăn đã qua sử dụng và 01 bộ bài tú lơ khơ.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 và biên lai thu tiền số 60AA/2021/0006484 ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng).

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ