- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bảo V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn B V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TK TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 12-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TK - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Xô
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
Bà Trần Thị Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TK.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TK tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TK, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLHS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn B V; giới tính: nam; sinh ngày: 21/7/1994, tại TK, Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: khối phố X, xã TX, huyện TK, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; con ông Nguyễn S (sinh năm: 1970) và bà Lê Thị P (sinh năm: 1970); bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1955. Nơi cư trú: Khối phố 5, phường A, huyện TK, tỉnh Quảng Nam; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/9/2023, Nguyễn B V (có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/6/2016) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Exciter màu xanh bạc, có dung tích xilanh là 149cm3, biển kiểm soát: 92B1 – 227.05 đi một mình từ nhà ông Nguyễn Tài tại khối phố X, xã TX, huyện TK để uống cà phê với bạn tại quán Milano (đường Phan Châu Trinh, huyện TK). Khi đi đến đoạn đường Trần Cao Vân Tộc xã TX, huyện TK, V điều khiển xe mô tô biển số 92B1-227.05 trên phần đường bên phải hướng Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng. Lúc này, có bà Đỗ Thị T đang đi bộ dưới lòng đường Trần Cao Vân, cùng chiều phía trước với xe do V điều khiển, cách lề đường bên phải theo hướng di chuyển khoảng 02m65. Do không chú ý quan sát nên V không nhìn thấy bà T, khi đi đến sát bà T, lúc này V mới nhìn thấy nhưng không xử lý kịp, dẫn đến tay cầm lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát: 92B1-227.05 do V điều khiển va vào người bà T gây tai nạn làm cho bà T, V và xe mô tô ngã trên mặt đường.
Hậu quả: bà Đỗ Thị T bị chấn thương sọ não, đa chấn thương điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam từ ngày 04/9/2023 đến ngày 02/10/2023. Ngày 03/10/2023 bà T nhập viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam để phục hồi chức năng, đến ngày 20/10/2023 ra viện; V bị xây xát nhẹ. (BL:80,81, 91-115)
Xe mô tô biển kiểm soát: 92B1 – 227.05 bị hư hỏng hẹ.
Tại hiện trường xác định:
- Vị trí xảy ra tai nạn giao thông là đường Trần Cao Vân Tộc xã TX, huyện TK, là đường hai chiều, chiều rộng mặt đường rộng 10m50, không có vạch sơn phân làn; hai bên đường có hè phố, mỗi bên rộng 4m00. Đoạn đường xảy ra tai nạn có dạng thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường làm bằng bê tông nhựa bằng phẳng, phía trước nơi xảy ra tai nạn về cả hai hướng đều không có hệ thống báo hiệu đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường:
Chọn trụ điện số T47 2E15/16 trên hè phố phía bên phải đường Trần Cao Vân theo hướng đường Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng làm điểm mốc cố định hiện trường.
Chọn mép đường bên phải đường Trần Cao Vân theo hướng Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng làm mép đường chuẩn để đo đạc hiện trường.
Các vị trí tại hiện trường được đánh số thứ tự:
- (1) là vị trí xe mô tô gắn biển số: 92B1 – 227.05.
- (2) là vị trí vết cày không liên tục dài 4m30, nơi rộng nhất 0m60
- (3) là vị trí vết máu đổ loang diện (0,50x0,20)m
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định:
- Xe (1) ngã nghiêng sang phải trên phần đường bên phải đường Trần Cao Vân theo hướng đường Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng, đầu xe quay về hướng Nguyễn Hoàng và hơi chếch ra phía giữa đường Trần Cao Vân, đuôi xe quay về hướng ngược lại. Trục bánh trước xe (1) cách mép đường chuẩn 2m70, cách ngang điểm mốc về hướng Lê Tấn Trung 14m10, trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2m50;
- Vết cày (2) nằm trên phần đường bên phải đường Trần Cao Vân theo hướng đường Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng, lệch từ trái sang phải theo hướng đường Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng, đầu vết cày (2) cách mép đường chuẩn 2m65, cuối vết (2) nằm ngang tại vị trí tiếp xúc giữa đầu tay cầm lái bên phải với mặt đường nhựa;
- Vết máu (3) nằm trên phần đường bên phải đường Trần Cao Vân theo hướng đường Lê Tấn Trung Nguyễn Hoàng, giữa vết máu (3) cách mép đường chuẩn 4m65 và cách ngang với trục bánh sau xe (1) về hướng Lê Tấn Trung 4m10;
Ngoài ra, tại hiện trường không có dấu vết nào khác liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên. (BL: 57, 58, 66, 68)
Theo kết quả đo nồng độ cồn lúc 19 giờ 03 phút ngày 04/09/2023 đối với Nguyễn B V, xác định kết quả 0.000mg/L. Theo biên bản thử phát hiện sử dụng ma tuý lập ngày 04/9/2023 đối với Nguyễn B V, kết quả âm tính với chất ma tuý. (BL; 36, 37, 83)
Theo kết quả xét nghiệm sinh hoá lúc 20 giờ 11 phút ngày 04/9/2023 của Khoa cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam: định lượng Ethanol (cồn) [máu] của bà Đỗ Thị T là <10 mg/dl. (BL: 34)
Theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 874/KLTTCT-TTPY ngày 07/11/2023 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Quảng Nam xác định: bà Đỗ Thị T bị chấn thương sọ não và hàm mặt, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Đỗ Thị T tại thời điểm giám định là 66% (sáu mươi sáu phần trăm). (BL: 23-26)
Vật chứng tạm giữ của Nguyễn B V: 01 (một) xe mô tô hai bánh, gắn biển số 92B1-227.05 đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số: 790164118506 do Sở GTVT Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/6/2016; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 004.064 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Nam cấp ngày 23/10/2015.
Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSTK-HS ngày 21-02-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TK, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Nguyễn B V về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn B V từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Nguyễn B V 01 (một) xe mô tô hai bánh, biển kiểm soát 92B1-227.05, 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe. (BL: 44,45)
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Đỗ Thị T không yêu cầu bồi thường gì thêm ngoài số tiền 70.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường, nên không xem xét.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TK, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TK, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung:
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/9/2023, Nguyễn B V (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Exciter màu xanh bạc, có dung tích xilanh là 149cm3, biển kiểm soát: 92B1 – 227.05 lưu thông trên đường Trần Cao Vân về phía phần đường bên phải theo hướng lưu hành. Khi đi đến đoạn đường Trần Cao Vân Tộc xã TX, huyện TK, do V không chú ý quan sát nên dẫn đến tay cầm lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát: 92B1-227.05 do V điều khiển va vào người bà Đỗ Thị T đang đi bộ dưới lòng đường Trần Cao Vân, cùng chiều phía trước với xe do V điều khiển. Hậu quả làm bà Đỗ Thị T bị chấn thương sọ não và hàm mặt, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Đỗ Thị T theo kết luận giám định là 66%.
- Xét lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông thì thấy:
Hành vi của bị cáo Nguyễn B V điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường nhưng không chú ý quan sát, đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, dẫn đến gây ra tai nạn, hậu quả xảy ra làm bà Đỗ Thị T bị thương tích 66%.
Đối với bị hại bà Đỗ Thị T có lỗi khi đi bộ dưới lòng đường Trần Cao Vân, trong khi đường Trần Cao Vân có vỉa hè dành cho người đi bộ. Hành vi này của bà T đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
Do đó, cả bị cáo và bị hại đều có lỗi dẫn đến xảy ra vụ tai nạn giao thông.
- Xét hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo Nguyễn B V gây ra thì thấy:
Bị cáo nhận thức được xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng bị cáo điều khiển xe môtô tham gia giao thông không chú ý quan sát nên không phát hiện được bà Đỗ Thị T đang đi bộ cùng chiều phía trước xe mô tô, dẫn đến gây ra tai nạn, hậu quả làm bà T bị thương tích 66%. Hành vi của bị cáo gây tổn thất sức khỏe cho bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thích đáng để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã đến thăm hỏi bị hại và tự nguyện bồi thường thiệt hại tổng số tiền 70.000.000 đồng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Về mức hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị hại cũng có lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông, bị cáo có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ trong khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về việc khấu trừ T nhập: Bị cáo Nguyễn B V làm nghề giao hàng, công việc không thường xuyên, T nhập thấp và không ổn định nên không khấu trừ T nhập đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an huyện TK đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Nguyễn B V 01 (một) xe mô tô hai bánh, biển kiểm soát: 92B1-227.05; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe là đúng pháp luật.
Đối với 01 (một) đĩa CD-R dung lượng 956 KB có chứa đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên, cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bà Đỗ Thị T tổng số tiền 70.000.000 đồng. Bà T không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Vấn đề liên quan khác:
Hành vi của bà Đỗ Thị T đi bộ dưới lòng đường Trần Cao Vân đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ, điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 và Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TK đã đề nghị Công an huyện TK xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Đỗ Thị T là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn B V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 và Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn B V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn B V 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã TX, huyện TK, tỉnh Quảng Nam nhận được Quyết định thi hành án đối với bị cáo và bản sao bản án.
Giao cho Uỷ ban nhân dân xã TX, huyện TK, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn B V trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
[2] Về xử lý vật chứng:
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD-R dung lượng 956 KB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
[3] Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn B V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - VKSND tỉnh, thành phố; - TAND tỉnh; - Chi cục THADS thành phố; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Xô |