- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Vượng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự hu…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN AN DƯƠNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 28-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Minh
Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn V, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1974 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Bùi Thị Đ (đã ly hôn): có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền sự đã được xóa tại Quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện và chữa trị tại cơ sở chữa bệnh số 62/QĐ-UB ngày 20/01/2010 của Ủy ban nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; bị tạm giữ ngày 07/11/2023, tạm giam ngày 13/11/2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Duy Khoa – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 07/11/2023 Phạm Văn V đến khu vực phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng để sử dụng. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến nghĩa trang thôn Tân Thanh, xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, V định sử dụng thì bị Công an xã Đại Bản, huyện An Dương phát hiện và thu giữ 01 gói giấy bạc kích thước 1,5x1,5cm trong chứa chất bột màu trắng nên đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn V không thu giữ được vật chứng liên quan.
Tại Kết luận giám định số 906/KL-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,11 gam, là loại Heroine.
Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn V. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo là người thuộc hộ cận nghèo nên miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối vơi bị cáo.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Đồng ý với tội danh, điều luật mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tình chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để áp dụng mức hình phạt ở mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị và miễn án phí hình sự đối với bị cáo vì bị cáo là người thuộc hộ cận nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, với Kết luận giám định số 906/KL-KTHS ngày 10/11/2023 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút Ngày 07/11/2023 tại khu vực nghĩa trang nhân dân thôn Tân Thanh, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn V có hành vi cất giữ trái phép 0,11 gam ma túy loại Heroine để sử dụng. Hành vi cất giữ trái phép 0,11 gam ma túy loại Heroine của bị cáo Phạm Văn V để sử dụng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng mức hình phạt tù ở mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn V.
[6] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là đối tượng thuộc hộ cận nghèo nên được miễn nộp án phí hành sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Văn V 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của bị cáo Phạm Văn V tính từ ngày ngày 07 tháng 11 năm 2023.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng)
Về án phí: Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Văn V.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - Bị cáo; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện An Dương; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng; Nguyễn Thị Liên - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện An Dương; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng; - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |