vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày 29 - 01- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Dinh, ông Giàng A Gông

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST - HS ngày 17/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST

- HS ngày 18/01/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1975 tại C, tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Đ (đã chết) và bà Lò Thị X – Sinh năm 1948; có vợ là Lò Thị L – Sinh năm 1980 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2000 và năm 2005 bị UBND tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở Giáo dục bắt buộc, bị cáo đã chấp hành xong cả 02 quyết định, được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Tạm giữ từ ngày 17/11/2023 đến ngày 23/11/2023, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/11/2023 bị cáo Lò Văn T sau khi đi làm thuê về đến đoạn đường thuộc nghĩa trang nhân dân thị trấn T thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua được 01 gói Heroine với giá 200.000đồng, 05 viên nén màu hồng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý bị cáo cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về. Đến 15 giờ 15 phút cùng ngày khi bị cáo đến đoạn đường thuộc tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên thì bị Công an huyện C phát hiện bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có cục chất bột màu trắng thể rắn.

- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có 05 viên nén màu hồng, một mặt của mỗi viên có chữ WY.

Ngày 17/11/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo: Cục chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,3411 gam, gửi toàn bộ để giám định ký hiệu H1; 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,4977 gam, gửi toàn bộ để giám định ký hiệu M1.

Kết luận giám định số 1620/KL - PC09 ngày 27/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn T gồm 0,3411 gam chất bột màu trắng và 0,4977 gam các viên nén màu hồng.

- Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H1 thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định 0,28 gam.

- Mẫu các viên nén màu hồng ký hiệu M1 thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định 0,45 gam.

Cáo trạng số 04/CT - VKSHTC ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy''; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo; Về vật chứng, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định loại Heroine, Methamphetamine và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và Bản kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Có đủ cơ sở kết luận ngày 17/11/2023 bị cáo đã mua được 02 chất ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ với giá 300.000 đồng, mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng. Sau đó bị cáo cất giấu trong người và trên đường về đã bị Công an huyện C bắt quả tang và thu giữ toàn bộ các chất ma túy bị cáo cất giấu.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,3411 gam Heroine và 0,4977 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,8388 gam. Hành vi cất giấu hai chất ma túy của bị cáo với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy'' theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, năm 2000 và năm 2005 bị UBND tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở Giáo dục bắt buộc, bị cáo đã chấp hành xong và đã được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,28 gam Heroine và 0,45 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu huỷ. [6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo theo Giấy chứng nhận số 159/GCN - HN.HCN ngày 01/01/2024 của UBND thị trấn T, nên bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. 1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy " 2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 17/11/2023. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên phát hành mẫu vật hoàn theo kết luận giám định số 1620/KL – KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Số vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T. 5. Kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/01/2024).

Cỡ chữ