vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1318 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì ho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày 09/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Đức Dương.

Ông: Trần Văn Hiểu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1 và Phòng 101, Công an huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 23/20224/HSST ngày 15/3/2024 theo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 25/3/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh ngày 16/5/1983, tại huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn ĐQ, xã NH, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Vũ Thị Ng (đã chết); bị cáo có vợ là Lê Thị M và 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/3/2015 bị Toà án nhân dân huyện T1 xử phạt Nguyễn Anh T 02 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 06/2015/HSST, ngày 08/8/2016 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và được xoá án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T1, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người làm chứng:

Ông Hà Duy Ch, sinh năm 1960, trú tại thôn Đ, xã TG; anh Lê Văn L1, sinh năm 1979, trú tại Tổ dân phố TS, thị trấn T1, đều thuộc huyện T1, tỉnh T2 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).

- Người tham gia tố tụng khác:

Ông Trần Ngọc D, Cán bộ Công an huyện T1, tỉnh T2, hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại đoạn đường đê sông Hồng thuộc địa phận thôn NLT, xã NH, huyện T1, tỉnh T2, Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Nguyễn Anh T đang tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1616 gam trong túi áo ngực bên trái đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Anh T khai: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, nên khoảng 20 giờ ngày 14/12/2023, Nguyễn Anh T đi bộ từ nhà đến đê sông Hồng thuộc địa phận thôn NLT, xã NH, huyện T1, tỉnh T2 mục đích tìm mua ma tuý. Tại đây T gặp 01 người đàn không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, nghi ngờ người này có bán ma tuý, nên T hỏi mua 100.000 đồng tiền ma tuý loại Heroin, người này đồng ý nhận tiền và đưa cho T 01 gói được gói bằng mảnh giấy màu trắng. Biết đây là gói ma túy, T nhận rồi cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, khi T đang đi trên đường đê sông H thuộc địa phận thôn NLT, xã NH, huyện T1, tỉnh T2 thì bị Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang. T khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy trên người và tự nguyện giao nộp gói ma túy có đặc điểm như nêu trên với mục đích để sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Anh T tại thôn ĐQ, xã NH, huyện T1, tỉnh T2, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện T1 không phát hiện thu giữ gì thêm.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Anh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời khai của những người làm chứng:

Ông Hà Duy Ch và anh Lê Văn L1 trình bày: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, ông Ch và anh L1 được chứng kiến việc Công an huyện T1 đang yêu cầu một người đàn ông làm việc do nghi ngờ liên quan đến ma túy. Qua giải thích người này khai tên Nguyễn Anh T. T khai nhận đang tàng trữ ma túy trên người. Cơ quan Công an mời T và người làm chứng về UBND xã NH làm việc, tại đây, ông Ch và anh L1 nhìn thấy T tự giác lấy từ túi ngực bên trái đang mặc ra 01 gói được gói bằng mảnh giấy màu trắng mở ra bên trong chứa hất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an và khai nhận đây là ma túy của T mua về để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản kết luận giám định số 1797/KL- KTHS, ngày 20/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin ( Heroine), có khối lượng 0,1616 gam. Heroin STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSTH ngày 14/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Kiểm sát viên đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Anh T đều khai nhận: Khoảng 00 giờ 30' ngày 15/12/2023, tại đoạn đường đê sông H thuộc địa phận thôn NLT, xã NH, huyện T1, tỉnh T2, Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Nguyễn Anh T đang tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,1616 gam trong túi áo ngực bên trái đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Anh T phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận giám định; Biên bản khám xét; Lời khai của những người làm chứng và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Anh T là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1616 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

c, Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam;

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả Hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Anh T là người sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Bị cáo đã bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học, vẫn sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Do bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này: Đối với người bán ma túy cho T, T khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu tại khu vực đường đê sông H địa phận thôn NLT, xã NH, huyện T1 với giá 100.000 đồng do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không có đủ cơ sở điều tra xác minh, làm rõ người đã bán ma túy cho T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,1318 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 1797/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh T2 là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1318 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 1797/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh T2.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 14/3/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 09/4/2024./.

Cỡ chữ