vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 12/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THA SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30 /2024/HS-ST
Ngày 12/6/2024

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THA SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

1. Tại điểm cầu trung tâm:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng.

Ông Phùng Đức Thụ.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê A Xuân Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n ThA Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

2. Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ:

- Đại diện Tòa án nhân dân huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Lê Mạnh Cường – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Nguyễn Giang Nam - Kiểm sát viên;

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ; 01 điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/HS-ST ngày 14 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 08/5/1983 tại huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 8, xã Gi L, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1958; Vợ, con: chưa có.

Tiền án:

+ Bản án số 113/HS-ST ngày 28/7/2004 của TAND tỉnh Lạng Sơn tuyên phạt Nguyễn Tuấn A 04 năm tù giam về tội “Mua bán phụ nữ”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2004.

+ Bản án số 16/2005/HSST ngày 26/01/2005 của TAND tỉnh Phú Thọ tuyên phạt Nguyễn Tuấn A 09 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ”. Tổng hợp với hình phạt 04 năm tù của Bản án số 113/HS-ST ngày 28/7/2004 của TAND tỉnh Lạng Sơn đã xét xử. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2004. Phạt Quản chế Nguyễn Tuấn A 03 năm tại địa phương sau khi hết hạn tù.

+ Bản án số 03/2008/HSST ngày 17/01/2008 của TAND quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Tuấn A 06 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”. Tổng hợp hình phạt 13 năm tù của Bản án số 16/2005/HSST ngày 26/01/2005 của TAND tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 năm tù. Trừ cho bị cáo thời gian đã thi hành án phạt tù của Bản án số 16/2005/HSST ngày 26/01/2005 của TAND tỉnh Phú Thọ từ ngày 27/01/2004 đến ngày 08/6/2007 là 03 năm 5 tháng 22 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2007.

+ Bản án số 15/2008/HSST ngày 25/3/2008 của TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 30 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 03/2008/HSST ngày 17/01/2008 của TAND quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã tổng hợp với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2005/HSST ngày 26/01/2005 của TAND tỉnh Phú Thọ buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 năm tù. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai bản án là 18 năm 01 tháng 19 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2007. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2021 nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 23/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày ngày 17/01/2024, Công an thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc khu Tân Thành, Thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ phát hiện một nam thA niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, người thA niên tự khai họ tên là Nguyễn Tuấn A và bản thân đang tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine. Nguyễn Tuấn A đã tự nguyện giao nộp 01 (một) gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong chứa chất bột cục màu trắng đang cất giấu trong túi quần bên phải, Nguyễn Tuấn A khai nhận đây là ma tuý heroine tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã thu giữ 01 gói giấy có đặc điểm như trên của Nguyễn Tuấn A; Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 19C1- 056.27 đã qua sử dụng (trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì); 01 điện thoại Samsung A12 màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0364.009.351, ngoài ra không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì khác.

Xét thấy có dấu hiệu của tội phạm, cùng ngày, Công an Thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn đã chuyển hồ sơ có dấu hiệu của tội phạm đến Cơ quan CSĐT Công an huyện ThA Sơn thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ việc, Cơ quan CSĐT Công an huyện ThA Sơn đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định vật chứng thu giữ của Nguyễn Tuấn A. Tại kết luận giám định số 130/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Chất bột cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng trong bì niêm phong gửi đến giám định là Ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,148gam”.

* Heroine (Heroin) là chất ma túy, có số thứ tự 09, DA mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định: 0,108gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.

Ngày 18/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện ThA Sơn tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Tuấn A tại khu 8, xã Gi L, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài sản gì.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện ThA Sơn đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và ra Quyết định tạm giữ đối với Nguyễn Tuấn A. Lệnh đã được Viện kiểm sát phê chuẩn để tiến hành điều tra theo quy định.

Tiến hành test nhA chất ma túy đối với Nguyễn Tuấn A cho kết quả dương tính với chất ma túy.

Ngày 23/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện ThA Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và đề nghị áp dụng biện pháp tạm giam đối với Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS. Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Tuấn A của Cơ quan CSĐT Công an huyện ThA Sơn đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện ThA Sơn phê chuẩn để tiến hành điều tra theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Tuấn A khai nhận diễn biến hành vi phạm tội và nguồn gốc số ma túy như sau:

Thông qua bạn bè A biết chị Quyên có ma túy Heroin bán. Khoảng hơn 17 giờ ngày 17/01/2024, Nguyễn Tuấn A sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen, bên trong lắp sim số 0364.009.351 gọi đến số điện thoại di động 0337.336.221 của Quyên hỏi mua 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) ma túy Heroine. Sau đó Quyên hẹn A đến khu vực dốc gần chợ Vàng thuộc thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 19C1- 056.27 đi một mình đến điểm hẹn. Khi đến nơi A đứng đợi khoảng 10 phút thì Quyên đi xe mô tô một mình đến. Tại đây, A lấy 200.000 đồng đưa cho Quyên, sau khi nhận tiền Quyên đưa cho A 01 gói ma túy Heroin, có đặc điểm là gói giấy màu vàng. A không mở ra kiểm tra mà cầm đúc vào túi quần bên phải đang mặc. Sau khi đưa ma túy cho A, Quyên điều khiển xe mô tô đi đâu A không biết, A đang định đi về thì có lực lượng Công an thị trấn ThA Sơn đến kiểm tra. A đã tự giác khai nhận và giao nộp gói ma túy A vừa mua được của Quyên cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện ThA Sơn tiến hành kiểm tra, khai thác dữ liệu điện thoại di động của Nguyễn Tuấn A thể hiện: Tiến hành kiểm tra mục dA bạ có lưu số điện thoại 0337.336.221 lưu tên “Còi”. Nguyễn Tuấn A trình bày đây là số điện thoại của người phụ nữ tên “Quyên Ích” ở khu vực gần bến xe khách huyện ThA Sơn, thị trấn ThA Sơn là người đã bán ma túy cho A vào ngày 17/01/2024.

Tiến hành kiểm tra mục điện thoại các cuộc gọi của Nguyễn Tuấn A có 01 cuộc gọi điện thoại tới số 0337.336.221 vào hồi 15 giờ 54 phút ngày 17/01/2024 thời lượng 01 phút 03 giây. Nguyễn Tuấn A trình bày đây là cuộc gọi mà A gọi cho người phụ nữ tên “Quyên Ích” để hỏi mua ma túy ngày 17/01/2024.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSThS ngày 14 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện ThA Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ThA Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Tuấn A từ 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,108 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại cùng toàn bộ bao gói gửi giám định đựng trong 01 túi niêm phong số ký hiện PS3 2158456, mặt sau bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 05 dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ; Và sim số điện thoại 0364.009.351 thu giữ của Nguyễn Tuấn A.

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Sam sung A12 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tuấn A.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, BKS: 19C1 – 05627, đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A không có trA luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận hành vi phạm tội như sau: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 17/01/2024 tại khu Tân Thành, Thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Tuấn A có hành vi tàng trữ 0,148gam ma túy, loại Heroin với mục đích để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Tuấn A đã bị Cơ quan điều tra Công an huyện ThA Sơn kiểm tra, thu giữ vật chứng và điều tra làm rõ. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo đã nhận tội, không trA luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luâ ̣n bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án, tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn A có 04 tiền án nhưng lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Sau khi xem xét nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp so với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cải tạo và tu dưỡng bản thân, có như vậy bị cáo mới có thể nhận ra sai lầm của mình, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị và là lao đô ̣ng tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, miễn áp du ̣ng hinh

̀ phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các nội dung khác:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Tuấn A ngày 17/01/2024: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn A khai ngày 17/01/2024 bị cáo mua ma túy của Hoàng Thị Quyên, sinh năm 1980, nhà ở phố Hạ Sơn, thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ với số tiền 200.000 đồng. Cơ quan điều tra triệu tập Hoàng Thị Quên đến làm việc. Quá trình làm việc Quyên khai không bán ma túy cho Nguyễn Tuấn A ngày 17/01/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa A và Quyên, sau khi đối chất A và Quyên vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Theo báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc thoại và SMS của số thuê bao 0337.336.221 do Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) cung cấp: Số thuê bao trên đứng tên Hoàng Thị Quyên, sinh năm 1980; địa chỉ: Phố Hạ Sơn, thị trấn ThA Sơn, huyện ThA Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ngày 17/01/2024 có 03 cuộc gọi từ số 0364.009.351 đến số thuê bao 0337.336.221. Cụ thể: Hồi 15 giờ 55 phút 05 giây, thời lượng 63 giây; Hồi 17 giờ 41 phút 59 giây, thời lượng 25 giây; Hồi 17 giờ 52 phút 58 giây, thời lượng 6 giây. Quyên khai không biết số điện thoại trên có phải Nguyễn Tuấn A gọi cho Quyên hay không. Giao dịch của các cuộc gọi trên Quyên không nhớ nội dung. Quyên khẳng định ngày 17/01/2024 Quyên không gặp cũng không bán ma túy cho A A. Mặt khác khi mua ma túy A khai chỉ có A và Quyên biết. Tiến hành test nhA chất ma túy đối với Hoàng Thị Quyên cho kết quả âm tính với chất ma túy. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với Hoàng Thị Quyên trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,108 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với sim số điện thoại 0364.009.351 thu giữ của Nguyễn Tuấn A, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Sam sung A12 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tuấn A. Bị cáo A sử dụng để liên lạc mua ma túy nên Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, BKS: 19C1 – 05627, đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội dA:

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249- Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 17/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Tuấn A.

3. Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,108 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại cùng toàn bộ bao gói gửi giám định đựng trong 01 túi niêm phong số ký hiện PS3 2158456, mặt sau bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 05 dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ; Và sim số điện thoại 0364.009.351 thu giữ của Nguyễn Tuấn A.

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Sam sung A12 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tuấn A.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, BKS: 19C1 – 05627, đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện ThA Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/5/2024.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ