vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/6/2024. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày: 25/12/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Thủy; Bà Vừ Thị Hoa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Khải Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS, ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS, ngày 11/12/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn V - Sinh ngày 13/12/1988, tại huyện T, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Đ – sinh năm 1971; Con bà: Lò Thị L – sinh năm 1970; Gia đình có 4 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Bị cáo sống chung như vợ, chồng ( không có ĐKKH) với chị Lò Thị L1 – sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/6/2024, tạm giam từ ngày 05/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. ( có mặt)

- Người làm chứng:1. Lò Văn L2.

2. Lò Văn I.

3. Tòng Văn C. (Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ sáng ngày 25/6/2024, Lò Văn V một mình đi bộ từ nhà tại bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản N, xã T, huyện T để tìm mua Heroine sử dụng và bán. Khi đến bản N, Lò Văn V gặp một người đàn ông (theo V khai người này giới thiệu tên là “Phử” nhà ở bản H, xã T, huyện T). Qua nói chuyện, V đã mua của “Phử” 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu hồng), với số tiền 200.000 đồng. Mua được H, Lò Văn V mang về nhà tại bản Tà Lồm, xã K, huyện T, cất giấu gói Heroine vào trong chiếc ví treo tại cột nhà, không cho ai biết. Đến khoảng 10 giờ ngày 26/6/2024, Lò Văn V lấy gói Heroine ra, cất vào túi quần bên phải đang mặc, mục đích để sử dụng và có ai hỏi thì bán. Sau đó, Lò Văn V đi bộ trong bản Tà Lồm, xã K, huyện T thì gặp Lò Văn L2 (sinh năm: 1967) và Lò Văn I (sinh năm: 1986), đều cư trú tại bản Đ, xã K, huyện T đi xe máy đến. I là người trực tiếp hỏi mua H và đưa cho V số tiền 50.000 đồng. V nhận tiền rồi lấy gói Heroine từ trong túi quần ra, bẻ lấy một ít bán cho I. Sau khi I mua được Heroine của V, L2 thấy vậy cũng đưa cho V 50.000 đồng, V hiểu L2 đưa tiền cho mình để mua Heroine nên V lấy gói Heroine ra, bẻ lấy một ít bán cho L2. Inh và L2 lấy số Heroine vừa mua được ra sử dụng một ít bằng hình thức hít tại bản Tà Lồm, xã K. Sau đó, I và L2 đi về còn Văn chia số Heroine còn lại thành các gói nhỏ (đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng) rồi cất vào trong túi quần đang mặc. Lò Văn I và Lò Văn L2 đi về đến bản O, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, lấy số Heroine còn lại ra sử dụng tiếp thì bị lực lượng Công an xã K phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hồi 10 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, thu giữ 01 bật lửa ga và 01 mảnh giấy bạc đã bị than hóa.

Trên cơ sở lời khai của Lò Văn L2 và Lò Văn I, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp đối với Lò Văn V, thu giữ số tiền 250.000 đồng. Lò Văn V đã tự giác lấy từ trong chiếc ví treo trên cột nhà mình ra giao nộp 03 gói Heroine (đều gói bằng nilon màu hồng).

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn V còn khai nhận ngoài lần bán Heroine cho Lò Văn I và Lò Văn L2: khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày 26/6/2024, Lò Văn V đang đứng ở đường trong bản Tà Lồm, xã K, huyện T thì có Tòng Văn C (sinh năm: 1990, cư trú tại bản Ngà, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu) lái xe ô tô tải đến. C hỏi mua H và đưa cho V 50.000 đồng, V nhận tiền và bán cho C 01 gói Heroine. Cơ quan điều tra đã triệu tập Lò Văn C1 lấy lới khai, C1 thừa nhận mua Heroine như V đã khai báo.

Bản kết luận giám định số 72/KLGĐ ngày 26/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 866/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn V có tổng khối lượng là 0,07 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin). Tại bản kết luận giám định số 867/KL-KTHS, ngày 29/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 250.000 đồng thu giữ của Lò Văn V gửi giám định là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm: 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,07 gam, đã gửi giám định toàn bộ (không hoàn lại mẫu vật). Các vật chứng còn lại (có bản kê kèm theo), hiện đang được bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 147/CT –VKS, ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn V từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000đồng. Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo Lò Văn V không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin được miễn toàn bộ án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 25/6/2024, tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn V đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng, mục đích: để sử dụng và bán. Trong ngày 26/6/2024, Lò Văn V đã 03 lần bán trái phép Heroine, mỗi lần bán 01 gói cho 01 người, lần lượt gồm: Lò Văn I, Lò Văn L2, Tòng Văn C, lấy tổng số tiền 150.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo chính là nạn nhân của ma túy, nên hiểu hơn ai hết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Vì mục đích thu lời và để có chất ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự khai nhận về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Tòng Văn C trước khi bị lực lượng Công an phát hiện, bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét giảm phần nào khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 250.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 150.000 đồng do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 100.000 đồng xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Về nguồn gốc H, bị cáo Lò Văn V khai mua của một người đàn ông tên “Phử”, nhà ở bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Lò Văn V còn khai nhận: ngày 26/6/2024, V đã bán 01 gói Heroine cho Lò Văn N (sinh năm: 1979, cư trú tại bản T, xã K, huyện T), lấy số tiền 100.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện Lò Văn N không có mặt tại địa phương nên chưa đủ căn cứ xử lý Lò Văn V về lần bán trái phép chất ma túy này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của: Lò Văn I, Lò Văn L2, Tòng Văn C, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí, nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

-Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

-Căn cứ khoản 2 Điều 106;135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/6/2024.

3. Về vật chứng:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 150.000đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng). Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng ( một trăm ngàn đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 03/12/2024 ).

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

Cỡ chữ