- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô K - 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 27-12-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Hà Văn Cương; Ông Trần Thành Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Lầu Bá Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô K - Sinh ngày 01/01/1976 tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã Ng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Ngô Văn L (đã chết) và bà: Nguyễn Thị M; Có vợ Lê Thị A (đã ly hôn), có 01 con (đã chết); Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 12/6/2024 bị Công an xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Về nhân thân:
- Bản án số 42/HSST ngày 16/8/2001 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý huỷ hoại tài sản.
- Bản án số 64/HSST ngày 17/5/2006 của Toà án nhân dân thị xã Sơn La, (Toà án nhân dân thành phố Sơn La), tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Bản án số 141/HSST ngày 22/7/2008 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 46 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Ngày 20/9/2016 bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
- Ngày 06/6/2019 bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, Tổ công tác Công an xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đến nhà Ngô K tiến hành test thử ma tuý đối với Khải theo phiếu phát giác, tố giác của quần chúng nhân dân. Qua làm việc Khải thừa nhận có sử dụng chất ma tuý, Tổ công tác yêu cầu Khải nếu cất giấu đồ phạm pháp thì đem giao nộp, Khải đã tự lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa bột liên kết màu trắng và 01 gói nilon màu hồng chứa chất bột liên kết màu trắng giao nộp. Khải khai nhận là Heroine cất giấu để sử dụng, Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô K và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Ngày 05/9/2024 cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Sông Mã đã hành mở niêm phong cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Khải, kết quả:
- Số chất bột liên kết màu trắng chứa trong gói nilon màu trắng có tổng khối lượng 0,22 gam, đã sử dụng 0,11gam làm mẫu giám định ký hiệu K1, vật chứng còn lại 0,11gam cho vào túi nilon màu trắng làm vật chứng lưu kho ký hiệu L1.
- Số chất bột liên kết màu trắng chứa trong gói nilon màu hồng có tổng khối lượng 0,33 gam, đã sử dụng 0,10 gam làm mẫu giám định ký hiệu K2, vật chứng còn lại 0,23gam cho vào túi nilon màu trắng làm vật chứng lưu kho ký hiệu L2.
Kết luận giám định số 1811/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“ Mẫu ký hiệu K1, K2 gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin); có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là: K1 = 0,11gam; K2 = 0,10gam.
Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,55 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.
Bị cáo Ngô K khai nhận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, Khải đem theo số tiền 200.000đ (là tiền do Khải lao động tiết kiệm mà có) đi bộ từ nhà ra đường Quốc lộ 4 G thuộc Bản H, xã Ng, huyện Sông Mã xin đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến bản Phá Thóng, xã Huổi Một, huyện Sông Mã để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến nơi Khải xuống xe đi bộ vào trong bản, trên đường đi thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ, Khải hỏi “ có ma tuý bán không”, người phụ nữ trả lời “có”, Khải đưa 200.000đ và được người phụ nữ đưa cho Khải 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa bột liên kết màu trắng và 01 gói nilon màu hồng chứa chất bột liên kết màu trắng. Sau khi mua được ma tuý Khải cất giấu số ma tuý trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày khi đang ở nhà thì Tổ công tác Công an xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã đến test thử ma tuý và yêu cầu nếu cất giữ đồ vật vi phạm thì giao nộp, Khải đã lấy gói ma tuý cất giấu trong túi quần đang mặc giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSSM ngày 10/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố bị cáo Ngô K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô K từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vật chứng liên quan.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Về tài liệu, chứng cứ xác định tội danh:
- Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 35 phút ngày 04/9/2024 đối với Ngô K cùng với vật chứng bị thu giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa bột liên kết màu trắng và 01 gói nilon màu hồng chứa chất bột liên kết màu trắng; Kết luận giám định số 1811/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận “K1, K2 gửi giám định là ma tuý… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,55 gam loại Heroine (Heroin)..”;
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 04/9/2024 Ngô K có hành vi mua và cất giấu trái phép chất 0,55 gam ma tuý loại Heroine, mục đích là sử dụng cho bản thân. Hành vi bị cáo thự hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố và Toà án nhân dân huyện Sông Mã xét xử đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý, có nhân thân xấu đã từng bị Toà án xét xử nhiều tội danh khác nhau bao gồm cả về tội danh liên quan đến ma tuý, từng đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học thích đáng để cải tạo bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo để nhằm răn đe giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Số ma túy còn lại là 0,34 gam Heroine là vật cấm lưu hành cùng và vật chứng liên quan không có giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông cho bị cáo đi nhờ xe đến địa điểm tìm mua ma tuý. Bị cáo không nói cho người này biết mục đích đi nhờ xe để tìm mua ma tuý và bị cáo cũng không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng làm rõ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Ngô K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Ngô K 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 9 năm 2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 0,11 gam Heroine được đựng trong túi nilon màu trắng;
+ 0,23 gam Heroine được đựng trong túi nilon màu trắng;
+ 02 mảnh nilon;
+ 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
(Tất cả các vật chứng được đựng trong một phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật; mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong mã số 0004964.)
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKSSM ngày 10/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 09 giờ 00 phút ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 27/12/2024)./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - Chi cục THADS Sông Mã; - Thi hành án HS; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Điệp |