- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị S- Lò Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn là chị Lò Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/ 9/ 2024 Về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng.
Bà Nguyễn Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên tòa: bà Lê Ngọc Trang- Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân &Gia đình thụ lý số: 90/204/TLST- HN&GĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc: “ Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Lò Thị S, sinh năm 1977; Địa chỉ: Bản T3, xã T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; có mặt.
2. Bị đơn: anh Lò Văn H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Bản T3, xã T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị S, trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Lò Thị S và anh Lò Văn H về chung sống v i nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/01/2003 tại UBND xã a T n, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Chị S và anh Lò Văn H chung sống hạnh phúc v i nhau đến nay đư c 21 năm. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn tr m trọng, nguyên nhân là do cách sống, quan điểm sống của v chồng anh chị không h p nhau nên không còn tình cảm v i nhau. Mâu thuẫn giữa chị S và anh H đã đư c gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhưng không có kết quả, anh chị không nhờ chính quyền địa phương hòa giải vì cho rằng đó là việc riêng của hai v chồng. Chị S và anh H đều làm trong ngành giáo dục nên Công đoàn nhà trường hòa giải nhưng vẫn không thành. Hiện tại chị S và anh H cùng chung sống trong một căn nhà nhưng không quan tâm đến nhau, chị S và anh H đã ly thân v i nhau t khoảng tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Kể t khi chị S và anh H ly thân anh chị không quan tâm, chăm sóc nhau nữa và thỉnh thoảng có việc thì anh chị cũng nhắn tin, điện thoại để liên lạc v i nhau. Đến nay chị S nhận thấy không còn tình cảm v i anh H nữa, cuộc sống chung giữa v chồng giữa chị S và anh H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đư c. Vì vậy chị Lò Thị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị S đư c ly hôn v i anh Lò Văn H.
Về con chung: chị S và anh H, có 02 con chung: cháu Lò Yến Ch, sinh ngày 26/12/ 2003 và cháu Lò Khánh Vy, sinh ngày 14/4/2009. Hiện tại cháu Lò Yến Ch đang đi học đại học Ngôn Ngữ Anh, năm thứ 4, tại thành phố H Nội đến nay đã trưởng thành trên 18 tuổi và cháu Lò Khánh Vy đang sinh sống cùng v i chị S. Sau khi chị S ly hôn v i anh H, nguyện vọng của chị S, là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lò Khánh Vy cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị S không yêu c u anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên chị không yêu c u Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: anh chị tự thỏa thuận nên không yêu c u Tòa án giải quyết; Về khoản n chung: không có tài sản chung nên chị S không yêu c u Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai, vào ngày 08/8/2024, anh Lò Văn H, trình bày: anh H và chị Lò Thị S, đăng ký kết hôn vào ngày 14/01/2003 tại UBND xã a T n, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. V chồng anh chị chung sống hạnh phúc v i nhau đư c 21 năm, đến năm 2019, thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị S phá phách về kinh tế, anh H đã khuyên bảo nhiều l n. T đó tình cảm v chồng xẩy ra mâu thuẫn, đã đư c ban Hòa giải viên và anh em bạn bè, hòa gải nhưng không thành, chị S vẫn tính nào tật ấy. Đến nay chị S làm đơn gửi lên Tòa án để yêu c u Tòa án giải quyết ly hôn v i anh H, anh H không nhất trí. Vì các con chung nên anh H, đề nghị Tòa án hòa giải để v chồng anh chị về đoàn tụ v i nhau. Về con chung: anh H và chị S có 02 con chung, cháu Lò Yến Ch, sinh ngày 26/12/2003, hiện nay cháu đang học Đại học và đã trên 18 tuổi và cháu Lò Khánh V , sinh ngày 14/4/ 2009. Nếu xẩy ra ly hôn, Tòa án hòa giải không thành, nguyện vọng của anh H là đư c nuôi cả 02 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành; Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh H không yêu c u chị S phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: anh chị tự thỏa thuận nên không yêu c u Tòa án giải quyết; Về khoản n chung: anh H và chị S không có nên không yêu c u Tòa án giải quyết; ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt, v i lý do công việc và phương tiện đi lại khó khăn.
Theo ý kiến và nguyện vọng của cháu Lò Khánh V , sinh ngày 14/4/2009 cháu trình bày: Cháu đã học xong l p 9A, Trường phổ thông Dân tộc bán trú, Trung học cơ sơ Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Năm nay cháu chuẩn bị bư c vào học l p 10; Cháu biết hiện giờ bố mẹ cháu đã ly thân g n đư c hơn 04 năm rồi. Hiện nay cháu đang ở v i mẹ, tại bản a T n 3, xã a T n, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Nguyện vọng của cháu là thích ở v i mẹ cháu, vì cháu ở v i mẹ, cháu sẽ đư c quan tâm chăm sóc đến cuộc sống cũng như việc học Hnh của cháu tốt hơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ phát biểu ý kiến như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể t khi thụ lý cho đến trư c thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đư c đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến Hnh tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo quy định tại Điều 175, Điều 177, Điều 179 của Bộ luật luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn là chị Lò Thị S có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn anh Lò Văn H vắng mặt tại phiên tòa l n thứ hai, có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến Hnh xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình: Ngày 14/01/2003, chị Lò Thị S và anh Lò Văn H đăng ký kết hôn tại UBND xã T , huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Căn cứ khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”. Tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh H thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đang có hiệu lực pháp luật, do vậy áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
2. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58 và Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Khoản 1 Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị S, xử cho chị Lò Thị S đư c ly hôn v i anh Lò Văn H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn H chấm dứt kể t ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Lò Khánh Vy, sinh ngày14/4/2009 cho chị Lò Thị S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lò Khánh Vy cho đến khi cháu Vy trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Trong trường h p vì quyền l i chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu c u thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
Về tài sản chung; khoản n chung: Đương sự không yêu c u nên đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc nguyên đơn là chị Lò Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đư c khấu tr vào số tiền 300.000 đồng mà chị S đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm, theo Biên lai số 0000621; ký hiệu: BLTU/23, ngày11/6/2024 tại Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. (chị Lò Thị S đã nộp đủ).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Xét đơn khởi kiện của chị Lò Thị S xác định đây là vụ án ly hôn theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Thời điểm chị Lò Thị S nộp đơn khởi kiện, anh Lò Văn H là bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bản T3, xã T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến Hnh tống đạt văn bản tố tụng cho chị Lò Thị S và anh Lò Văn H đúng theo quy định tại khoản 2, khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật luật Tố tụng dân sự. Ngày 13/9/2024 Tòa án mở phiên tòa l n thứ nhất, do Hội thẩm nhân dân vắng mặt tại phiên tòa mà không có người thay thế nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và Tòa án thông báo, ấn định mở lại phiên tòa vào ngày 24/9/2024. Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến Hnh xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Lò Thị S và anh Lò Văn H, kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, đư c tự do tìm hiểu, không bị ai l a dối hay ép buộc và có đăng ký kết hôn v i nhau vào 14/01/2003 tại UBND xã a T n, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, theo Giấy chứng nhận kết hôn, do Uỷ ban nhân dân xã Pa T n, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, cấp ngày 14/01/2003. Do đó, Hội đồng xét xử, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn H là h p pháp. Trong quá trình chung sống v chồng chị Lò Thị S và anh Lò Văn H hoà thuận, hạnh phúc, đến đ u năm 2019 thì chị S và anh H bắt đ u xẩy ra mâu thuẫn và sống ly thân t năm 2021 cho đến nay. Tình cảm v chồng giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn H không còn, chị S và anh H mặc dù sống chung trong một căn nhà nhưng không liên lạc, không quan tâm đến nhau, mâu thuẫn v chồng ngày càng tr m trọng, mục đích của hôn nhân không đạt đư c. Vì vậy chị Lò Thị S làm đơn yêu c u Tòa án giải quyết cho chị Lò Thị S đư c ly hôn v i anh Lò Văn H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xét thấy anh Lò Văn H không có thiện chí h p tác, không có yêu c u phản tố, không đưa ra đư c các chứng cứ, biện pháp gì để cải thiện đời sống chung của v chồng. Hiện nay v chồng chị S và anh H vẫn đang sống ly thân, không liên lạc và không còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ v , chồng chị S và anh H chung sống v i nhau mà không có hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng tr m trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đư c. Tại phiên tòa chị Lò Thị S vẫn giữ nguyên quan điểm yêu c u Tòa án giải quyết cho chị đư c ly hôn v i anh Lò Văn H. Vì vậy Hội đồng xét xử c n căn vào khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 chấp nhận yêu c u xin ly hôn của chị Lò Thị S, cho chị Lò Thị S đư c ly hôn v i anh Lò Văn H.
. Về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: chị S và anh H, có 02 con chung: cháu Lò Yến Ch, sinh ngày 26/12/ 2003 và cháu Lò Khánh Vy, sinh ngày 14/4/ 2009. Hiện tại cháu Lò Yến Ch đang đi học đại học Ngôn Ngữ Anh, năm thứ 4, tại thành phố H Nội và đã trưởng thành trên 18 tuổi và cháu Lò Khánh Vy, hiện đang sinh sống cùng v i chị S. T khi anh chị sống ly thân, việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung đều do chị S một mình đảm nhiệm. Hiện nay cháu Lò Yến Ch, đang đi học đại học tại H Nội và đã trưởng thành trên 18 tuổi nên Tòa án không xem xét, giải quyết; đối v i cháu Lò Khánh Vy, sinh ngày 14/4/2009 hiện đang học tập và sinh sống v i chị S đã ổn định về thể chất và tinh th n, nếu giao cháu V cho anh H nuôi dưỡng, chăm sóc sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu. Để đảm bảo quyền l i chính đáng cho con chung sau khi ly hôn đư c phát triển tốt nhất về cả thể chất lẫn tinh th n cũng như theo nguyện vọng chính đáng của cháu Lò Khánh V và mong muốn của chị Lò Thị S, là người đư c chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Lò Khánh Vy cho đến khi cháu Vy trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Giao cháu Lò Khánh V , sinh ngày 14/4/ 2009 cho chị Lò Thị S là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Vy cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Lò Thị S không yêu c u anh Lò Văn H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết. Anh Lò Văn H đư c quyền đi lại, thăm nom con chung nhưng không đư c lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trong trường h p vì quyền l i chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu c u thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
. Về tài sản chung; về khoản nợ chung: các đương sự không yêu c u nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc nguyên đơn là chị Lò Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đư c khấu tr vào số tiền 300.000 đồng mà chị S đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm, theo Biên lai số 0000621; ký hiệu: BLTU/23, ngày11/6/2024 tại Ch cục Thi Hnh án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. (chị Lò Thị S đã nộp đủ).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 và Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Khoản 1 Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn là chị Lò Thị S.
Về quan hệ hôn nhân: Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn H, theo Giấy chứng nhận kết hôn, do Uỷ ban nhân dân xã P T , huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, cấp ngày 14/01/2003. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn H, chấm dứt kể t ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Lò Khánh Vy, sinh ngày 14/4/2009 cho chị Lò Thị S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lò Khánh V cho đến khi cháu V trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị Lò Thị S không yêu c u anh Lò Văn H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Anh Lò Văn H là người không trực tiếp nuôi con đư c quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung nhưng không đư c lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung; Trong trường h p vì quyền l i chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu c u thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
Về tài sản chung, khoản nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Buộc nguyên đơn là chị Lò Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đư c khấu tr vào số tiền 300.000 đồng mà chị S đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm, theo Biên lai số 0000621; ký hiệu: BLTU/23, ngày11/6/2024 tại Ch cục Thi Hnh án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. chị Lò Thị S đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Lò Thị S, có mặt tại phiên tòa đư c quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; bị đơn anh Lò Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lai Châu;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lai Châu
- VKSND huyện Sìn Hồ;
- Các đương sự;
- UBND xã P T ;
- Ch cục THADS huyện Sìn Hồ;
- Lưu hồ sơ - TA.
Phan Hồng Ngoãn HỘI THẨM NHÂN DÂN Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lai Châu;
- VKSND tỉnh Lai Châu
- VKSND huyện Sìn Hồ;
- Các đương sự;
- UBND xã Pa T n;
- Ch cục THADS huyện Sìn Hồ;
- Lưu hồ sơ - TA. HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - Các đương sự; - UBND xã Noong Hẻo; - Ch cục THADS huyện Sìn Hồ; - Lưu hồ sơ - TA. HỘI THẨM NHÂN DÂN Tẩn A Sếnh Vàng A Măng |