- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 67/2024/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 – 6 – 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Long. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Đăng An.
2. Bà Trần Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai Linh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 67/2024/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST – HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H – sinh năm: 1988 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T - xã T - huyện C - tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Công S – sinh năm: 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn G - xã T - huyện N - tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Công S tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 07/4/2008. Hiện nay Giấy chứng nhận kết hôn bản chính đã bị thất lạc chỉ cung cấp bản sao. Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Kỳ Công B – sinh ngày 17/11/2008 và cháu Nguyễn Hoài Như A – sinh ngày 14/11/2010.
Trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông S thường xuyên ăn nhậu bê tha, không lo làm ăn, bà đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông S vẫn không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Kỳ Công B và cháu Nguyễn Hoài Như A. Bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Bà làm gia công thêu quần, áo thu nhập trung bình 8.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, ông bà ngoại phụ giúp nên bà đủ khả năng nuôi con. Ông S hiện nay làm gì, thu nhập bao nhiêu bà không rõ.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Công S vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H được ly hôn với ông S; giao 02 con chung Nguyễn Kỳ Công B và cháu Nguyễn Hoài Như A cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải theo quy định tại các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Công S kết hôn là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 07/4/2008, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn bà Lê Thị H cho rằng vợ chồng bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông S thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn ... Bà và ông S đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Xét thấy: lời trình bày của bà H phù hợp với biên bản xác minh ngày 16/4/2024 tại địa phương (BL 34). Hơn nữa dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng ông S không đến Tòa làm việc, chứng tỏ ông S có thái độ bỏ mặc, muốn ra sao thì ra. Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
Về con chung: Bà Lê Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Kỳ Công B và cháu Nguyễn Hoài Như A. Đối với con chung Nguyễn Kỳ Công B và cháu Nguyễn Hoài Như A tính đến ngày mở phiên tòa cháu B, cháu A trên 7 tuổi và tại bản trình bày, biên bản lấy lới khai cháu B, cháu A trình bày "Trường hợp cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ". Đây là nguyện vọng chính đáng của trẻ được pháp luật bảo vệ. Hơn nữa cháu còn quá nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu B, cháu A cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Công S.
2. Về con chung: Bà Lê Thị H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Kỳ Công B – sinh ngày 17/11/2008 và cháu Nguyễn Hoài Như A – sinh ngày 14/11/2010. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu. Hiện nay con chung đang ở với bà H.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị H đã nộp là 300.000đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000252 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2024). Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Hải; - THA dân sự huyện Ninh Hải; - UBND xã Tân Hải; - Lưu (hồ sơ, án văn)./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Long |