- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị Cáo Lê Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HSST Ngày: 14/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Lan Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Hùng và bà Nguyễn Thị Hà Thư ký phiên tòa: Hứa Thị Hà, Thư ký viên chính - Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Khắc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 04 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại trại tạm giam số 1 – Công an TP Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST- HS ngày 17/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:
LÊ VĂN S , sinh năm: 1982; HKTT: Thôn H, xã T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện Thường Tín, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Lê Quyết T và bà Đặng Thị V; Vợ: Đỗ Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2019;
- Tiền án: Ngày 08/9/2020, TAND huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 17/5/2021, chấp hành xong hình phạt (chưa xóa án tích)
- Tiền sự: Ngày 14/6//2019, TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ra Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh Hưng Yên. Ngày 21/7/2019, S bỏ trốn. Ngày 22/7/2019, Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh Hưng Yên đã ra Quyết định truy tìm số 156/QĐ-CSĐTNMT.
- Nhân thân:
+ Ngày 27/10/2009 TAND huyện Thường Tín - Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 20/01/2012, chấp hành xong hình phạt (đã xóa án tích).
+ Ngày 06/9/2013 bị UBND quận Cầu Giấy - Hà Nội ra Quyết định xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động Xã hội số VI - Hà Nội với thời gian 24 tháng. Ngày 08/7/2015, chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến nay. (có mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn K, sinh năm: 1971 Địa chỉ: xã T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 21/12/2022, tại khu vực chợ thôn K, xã T, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội, Tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã T đã phát hiện Lê Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu NONGSAN, BKS: 89H1-5036 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ tại tay trái của S có 02 gói nilong màu đen, bên trong là gói giấy chứa chất bột màu trắng. S tự khai chất bột trên là ma túy heroin mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn thu giữ của Lê Văn S 01 xe mô tô BKS: 89H1-5036.
Tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Lê Văn S . Kết quả: nước tiểu của S dương tính với ma túy heroin.
Ngày 21/12/2022, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn S tại thôn K, xã T, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội nhưng không phát hiện, thu giữ gì.
Về nguồn gốc ma túy, Lê Văn S khai: Khoảng 11 giờ ngày 21/12/2022, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu NONGSAN, BKS 89H1-5036 từ nhà ở xã T, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội đến khu vực nghĩa trang thôn Đ, xã Vạn Điểm, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội để tìm mua ma túy heroin về sử dụng cho bản thân. Tại đây, S gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, đi bộ, dáng người cao gầy, da ngăm đen, đeo khẩu trang 02 gói ma tuý được bọc bên ngoài là túi nilong màu đen bên trong là gói giấy với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, S đi xe mô tô về nhà để sử dụng ma túy, trên đường đi thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.
Tại bản kết luận giám định số 8676/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (bên ngoài bọc nilong màu đen) đều là ma túy loại heroin, tổng khối lượng 0,120 gam.
Tại cáo trạng số 14/CT-VKSTT ngày 17 tháng 03 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín đã truy tố Lê Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo lê văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn S từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (21/12/2022).
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy heroine có chữ ký của Lê Văn S , cán bộ niêm phong, giám định viên.
Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu NONGSAN đã qua sử dụng BKS 89H1 – 5036, số máy FMG -3*4021718*; số khung CG023VT004050.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có hoàn cảnh khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ định tội: Chất bột màu trắng bị cáo tàng trữ là Heroine có khối lượng là 0,120 gam. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy do Lê Văn S thực hiện vào lúc 12 giờ ngày 21/12/2022 tại khu vực chợ thôn K, xã T. Công an xã T kiểm tra bắt quả tang Lê Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,120 gam ma túy loại Heroine. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Căn cứ vào lời khai của những người liên quan xác định được bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội, bị cáo đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là hành vi pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các chính sách pháp luật về phòng chống ma túy, tác động xấu đến kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đạo đức, lối sống và sức khỏe của người khác, gây bức xúc trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, mặc dù nhận thức được hậu quả xảy ra nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm đến cùng gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; năm 2020 bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, bản thân mắc nghiện ma túy bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân nay tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Hêroin) có chữ ký của giám định viên, bị cáo và người chứng kiến được hoàn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu NONGSAN, BKS: 89H1-5036, số máy: FMG-3*40021718*; số khung: CG023VT004050 đã qua sử dụng, chủ sở hữu chiếc xe là ông Lê Văn S (chú ruột bị cáo) cho bị cáo để làm phương tiện đi làm, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội ông S không biết, tại phiên tòa bị cáo đề nghị trả lại chiếc xe để lấy phương tiện đi làm nên trả lại bị cáo là phù hợp pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối tượng Lê Văn S khai đã bán cho S ngày 21/12/2022 tại khu vực thôn Đ, xã Vạn Điểm nhưng không cung cấp được tên, địa chỉ, cơ quan điều ra đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được, chờ kết quả xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136; 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt Lê Văn S 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2022).
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy (Heroine), bên ngoài có chữ ký xác nhận của giám định viên phòng PC09, cán bộ niêm phong và Lê Văn S .
- Trả lại Lê Văn S 01 xe mô tô nhãn hiệu NONGSAN, BKS: 89H1-5036, số máy: FMG-3*40021718*; số khung: CG023VT004050 đã qua sử dụng. (Tang vật hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2023).
Về án phí: Bị cáo Lê Văn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND TP. Hà Nội; -VKSND huyện Thường Tín; -Công an huyện Thường Tín; -Chi cục THADS huyện Thường Tín; -Bị cáo, đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Đoàn Lan Hương |