- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữu trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Công T A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HSST Ngày: 06/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Lợi
- Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Phan Thị Thiện
2- Ông Nguyễn Thế Vinh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Duy– Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 06/9/2023, tại hội trường xét xử A, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin mở phiên toà trực tuyến công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 11tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Công T A, sinh năm 1984 tại tỉnh Đắk Lắk; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn 8, xã E, huyện C, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Bùi Công L và bà Hoàng Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ là Võ Thị Phan G, sinh năm 1984 (đã ly hôn); Hiện đang chung sống như vợ chồng với Phạm Thị V A (chưa đăng ký kết hôn); Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án: có 01 tiền án, ngày 20/6/2007, bị Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đ xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 13/02/2008 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và bồi thường về dân sự cho người bị hại nên chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến ngày 26/5/2023 cho gia đình bảo lĩnh, đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Nhân thân: Ngày 30/5/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ tuyên phạt 32 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và đến ngày 01/10/2003, chấp hành xong án phạt tù và đã được xóa án tích (do thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi nên chấp hành xong hình phạt chính và trong thời hạn 01 năm bị can không thực hiện hành vi phạm tội mới nên được xóa án tích).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Đức H
Trú tại: Thôn 8, xã E, huyện C, tỉnh Đ (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Bùi Công T A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố về hành vi phạm tội tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/11/2022 đến 25/12/2022, Phạm Thị V A, sinh năm 1988 cùng với Đinh Hoàng Bảo T, sinh năm 1995 đã nhiều lần bán ma túy cho một số đối tượng tại huyện C, tỉnh Đ. Thông qua, lời khai của các đối tượng mua ma túy và qua các tài liệu xác minh, ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Phạm Thị V A đã phát hiện và thu giữ trong phòng ngủ của Phạm Thị V A và Bùi Công T A (V A và T A không đăng ký kết hôn, nhưng chung sống như vợ chồng) 01 gói nylon trong suốt, kích thước (09x6,2) cm chứa tinh thể màu trắng, tổng khối lượng 2,38 gam và 01 gói nylon trong suốt hàn kín 2 đầu, kích thước (3,5x1,2) cm chứa tinh thể màu trắng, tổng khối lượng 0,26 gam. Ngoài ra, khám xét ở một số phòng khác thu giữ được 02 khẩu súng hơi cỡ nòng 5,5 mm (khẩu thứ nhất dài 87 cm, nhãn hiệu in trên thân Dream Valve, ống ngắm có ghi chữ Sniper; khẩu thứ hai dài 105,5cm, nhãn hiệu in trên thân Air Force, ống ngắm có ghi chữ Swampdeer); 01 hộp pháo hoa nổ, hình khối hộp (kích thước 1 7cm x 17 cm x 10 cm; bên ngoài bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài, bên trong gồm 49 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau), khối lượng là 1,46 kg; 01 chai nhựa, bên trong có chứa nước, nhãn hiệu Sting, nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, lỗ thứ nhất gắn 01 ống thủy tinh dạng chữ U, dài 21 cm, một đầu có bầu tròn, lỗ còn lại gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 28,5 cm; 02 ống thủy tinh, cùng dạng chữ U, kích thước dài 17cm, một đầu có bầu tròn; 01 quẹt gas bằng nhựa trong, kích thước (08 x 02) cm đầu gắn ống kim loại dài 7,5 cm.
Quá trình điều tra, xác định được Bùi Công T A và chị Phạm Thị V A cùng sinh sống tại nhà của gia đình chị V A ở thôn 8, xã E, huyện C, tỉnh Đ từ năm 2019. Do bị nghiện ma túy từ năm 2012, nên ngày 25/12/2022, T A đi lên khu vực Km3, thành phố B, tỉnh Đ gặp một người đàn ông tên thường gọi là T (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) để mua ma túy (do trước đó T A đã mua ma túy của người này về để sử dụng). Tại đây, T A thỏa thuận mua của người đàn ông nói trên 02 gói ma túy (không xác định được khối lượng) với số tiền 3.700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T A mang về cất giấu tại nhà của V A ở thôn 8, xã E, huyện C, tỉnh Đ để sử dụng dần tránh sự phát hiện của người khác. Đến tối ngày 27/12/2022, T A tiếp tục lấy ma túy ra sử dụng một phần, số còn lại đem vào trong phòng ngủ cất giấu dưới gối của mình. Đến ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp đã thu giữ được số ma túy còn lại và các tang vật nêu trên
* Tại Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nylon trong suốt hàn kín 02 đầu, kích thước (3.5 x 1.2) cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1295 gam, loại: Methamphetamine. Tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nylon trong suốt kín 02 đầu, kích thước (09 x 6.2) cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3410 gam, loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy là 1,4705 gam, loại: Methamphetamine.
* Tại Bản kết luận giám định số 171/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố ĐN kết luận: 01 (một) khối hình hộp (kích thước 17cm x 17cm x 10cm; bên ngoài bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài; bên trong gồm 49 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau) gửi giám định là pháo hoa nổ, khối lượng là 1,46 kg.
* Tại Bản kết luận giám định số 172/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố ĐN, kết luận:
- 02 (hai) vật hình dạng khẩu súng có đặc điểm nêu trên gửi giám định là súng hơi cỡ nòng 5,5 mm; hiện tại 02 khẩu súng đều sử dụng bắn được và thuộc súng săn.
- Xác định ký tự đóng chìm trên các bộ phận của 02 khẩu súng gồm:
+ Khẩu súng dài 87cm có ký tự đóng chìm gồm: “Dream Valve 7075 30Mpa (bên phải thân súng); “Air C451392 TP45 WP30 TS LF 20y – W0.59 V0.25 $6.1 22/06 TS2210L82 GB/T11640” (vai bình chứa hơi) và “H525 114” (đít bình chứa hơi);
+ Khẩu súng dài 87cm có ký tự đóng chìm gồm: “Air C443259 TP45 WP30 TS LF 20y - W0.74 V0.35 $6.1 22.05 TS2210L82 GB/T11640” (vai bình chứa hơi) và “H489 035” (đít bình chứa hơi);
Không phát hiện thấy dấu vết đục phá, sửa chữa các ký tự nêu trên
* Tại Bản Kết luận giám định số 779/KL-KTHS ngày 05/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: “Dấu vân tay trên các mẫu cần giám định A1, A2 so với dấu vân tay trên mẫu so sánh M là của cùng một người” nên xác định Bùi Thế A và Bùi Công T A là một người.
* Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ gồm: 01 gói nylon trong suốt, kích thước (09 x 6,2)cm, bên trong gói nylon có chứa khối lượng 1,3410 gam ma túy, loại Methamphetamine (sau khi giám định chỉ còn lại 1,2292 gam); 01 gói nylon trong suốt hàn kín 2 đầu, kích thước (3,5x1,2) cm, bên trong gói nylon có chứa khối lượng 0,1295 gam ma túy, loại Methamphetamine (sau khi giám định chỉ còn lại 0,0998 gam); 02 khẩu súng hơi cỡ nòng 5,5mm; 01 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 1,46 kg; 01 chai nhựa, bên trong có chứa nước, nhãn hiệu Sting, nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, lỗ thứ nhất gắn 01 ống thủy tinh dạng chữ U, dài 21 cm, một đầu có bầu tròn, lỗ còn lại gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 28,5 cm; 02 ống thủy tinh, cùng dạng chữ U, kích thước dài 17 cm, một đầu có bầu tròn; 01 quẹt gas bằng nhựa trong, kích thước (08 x 02) cm đầu gắn ống kim loại dài 7,5 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu tím, đen, số IMEL 353185440686048, bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0763482345.
Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS ngày 08/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Bùi Công T A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Công T A khai phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, vai trò do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; đồng thời đề cập các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Công T A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự
Xử phạt bị cáo Bùi Công T A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến ngày 26/5/2023.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon trong suốt, kích thước (09x6,2) cm bên trong có chứa khối lượng 1,2292 gam ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) và 01 gói nylon trong suốt hàn kín 2 đầu, kích thước (3,5x1,2) cm bên trong có chứa khối lượng 0,0998 gam ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa, bên trong có chứa nước, nhãn hiệu Sting, nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, lỗ thứ nhất gắn 01 ống thủy tinh dạng chữ U, dài 21 cm, một đầu có bầu tròn, lỗ còn lại gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 28,5 cm; 02 ống thủy tinh, cùng dạng chữ U, kích thước dài 17 cm, một đầu có bầu tròn; 01 quẹt gas bằng nhựa trong, kích thước (08x02) cm đầu gắn ống kim loại dài 7,5 cm là vật chứng của vụ án.
- Đối với 02 khẩu súng hơi cỡ nòng 5,5mm nêu trên, thì ngày 04/7/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Công T A về hành vi tàng trữ trái phép 02 khẩu súng và đã tịch thu đối với 02 khẩu súng này là đúng pháp luật.
- Đối với 01 hộp pháo hoa nổ có khối lượng là 1,46 kg nêu trên thì quá trình giám định đã sử dụng hết.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu tím, đen, số IMEL 353185440686048. Bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0763482345 thuộc sở hữu của bị can Bùi Công T A, quá trình điều tra xác định được Bùi Công T A không dùng điện thoại và sim số nêu trên để sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
* Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị can Thế Anh tại thành phố B, tỉnh Đ thì hiện nay không xác định được nhân thân, lý lịch. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã có Công văn trao đổi với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột để tiếp tục phối hợp, xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
* Đối với Phạm Thị V A, thì quá trình điều tra xác định được: Việc V A cùng với Đinh Hoàng Bảo T mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng khác, thì không liên quan đến bị can T A. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Phạm Thị V A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ở một vụ án khác riêng biệt. Đồng thời, ngày 06/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã ban hành Cáo trạng số 22 truy tố đối với Phạm Thị V A và đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện C để xét xử nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Riêng đối với việc bị cáo Bùi Công T A mua ma túy về sử dụng và cất dấu tại nhà của gia đình Phạm Thị V A là do một mình T A thực hiện không liên quan đến V A. Đồng thời, việc T A cất dấu ma túy để sử dụng, cùng các dụng cụ để sử dụng ma túy và 02 khẩu súng hơi, pháo tại nhà, thì V A không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không xử lý đối với V A trong vụ án này là phù hợp.
* Đối với ông Phạm Đức H và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ của V A không biết việc bị caó Bùi Công T A cất giấu ma túy, các dụng cụ sử dụng ma túy và 02 khẩu súng hơi, pháo tại nhà mình. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý đối với ông H và bà T là có căn cứ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và điều luật áp dụng:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Công T A đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 25/12/2022, Bùi Công T A đi đến khu vực Km3, thành phố B, tỉnh Đ mua của người đàn ông tên T (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) 02 gói ma túy với giá tiền là 3.700.000 đồng. Sau đó bị cáo mang về cất giấu tại nhà của gia đình Phạm Thị V A ở thôn 8, xã E, huyện C, tỉnh Đ để sử dụng dần. Đến ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị V A tại thôn 8, xã E, huyện C, tỉnh Đ thì phát hiện, thu giữ 02 gói nilon bên trong có chứa 1,4705 gam ma túy, loại Methamphetamine cùng một số tang vật khác để xử lý theo quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ pháp luật.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
……………………..
c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Hội đồng xét xử cần căn cứ vào điều luật nêu trên của của Bộ luật hình sự để xét xử đối hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và gây ảnh hưởng xấu cho xã hội về nhiều mặt, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lan truyền các tệ nạn xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS làm ảnh hưởng nghiệm trọng sức khỏe con người mà Nhà nước đang ngăn chặn. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được ma túy đá (Methanphetamin) (quy định trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ là chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền) là chất có khả năng gây nghiện cao thuộc sự quản lý độc quyền của Nhà nước. Việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển đều phải được sự cho phép của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật xử lý một cách thích đáng. Nhưng vì động cơ muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã mua ma túy đá tàng trữ với số lượng 1,4705 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng dần. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng các quy định của pháp luật để lượng hình phạt cho bị cáo phù hợp tính chất mức độ hành vị phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, chấp hành pháp luật không tốt đã có hai bản án có hiệu lực pháp luật đã xét xử bị cáo về hành vi phạm tội.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 20/6/2007, bị Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đ xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và bồi thường về dân sự cho người bị hại nên chưa được xóa án tích. Đến nay lại tiếp tục phạm tội là tái phạm nên Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố là ông Bùi Công L là thương binh, đồng thời là người được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất vì đã có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước và Huân chương chiến công hạng ba vì đã lập được chiến công trong chiến đấu, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
- Về hình phạt: Xét thấy tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, qua những phân tích các tình tiết nêu trên của vụ án, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội. Quá trình giáo dục, cải tạo, bị cáo nhận thức được lỗi lầm của mình mà tự sửa chữa, khi tái hòa nhập với cuộc sống cộng đồng trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với đề xuất mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử cần điều chỉ lại cho phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Không có
Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon trong suốt, kích thước (09x6,2) cm bên trong có chứa khối lượng 1,2292 gam ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) và 01 gói nylon trong suốt hàn kín 2 đầu, kích thước (3,5x1,2) cm bên trong có chứa khối lượng 0,0998 gam ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) là vật chứng của vụ án.
- Đối với 01 hộp pháo hoa nổ có khối lượng là 1,46 kg nêu trên thì quá trình giám định đã sử dụng hết.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa, bên trong có chứa nước, nhãn hiệu Sting, nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, lỗ thứ nhất gắn 01 ống thủy tinh dạng chữ U, dài 21 cm, một đầu có bầu tròn, lỗ còn lại gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 28,5 cm; 02 ống thủy tinh, cùng dạng chữ U, kích thước dài 17 cm, một đầu có bầu tròn; 01 quẹt gas bằng nhựa trong, kích thước (08x02) cm đầu gắn ống kim loại dài 7,5 cm là vật chứng của vụ án. (Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C ngày 08/8/2023)
- Đối với 02 khẩu súng hơi cỡ nòng 5,5mm nêu trên, thì ngày 04/7/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Công T A về hành vi tàng trữ trái phép 02 khẩu súng và đã tịch thu đối với 02 khẩu súng này là đúng pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu tím, đen, số IMEL 353185440686048. Bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0763482345 thuộc sở hữu của bị can Bùi Công T A, quá trình điều tra xác định được Bùi Công T A không dùng điện thoại và sim số nêu trên để sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
* Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T A tại thành phố B, tỉnh Đ thì hiện nay không xác định được nhân thân, lý lịch. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã có Công văn trao đổi với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để tiếp tục phối hợp, xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
* Đối với Phạm Thị V A, thì quá trình điều tra xác định được: việc V A cùng với Đinh Hoàng Bảo T mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng khác, thì không liên quan đến bị cáo T A. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị cáo đối với Phạm Thị V A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ở một vụ án khác riêng biệt. Đồng thời, ngày 06/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã ban hành Cáo trạng số 22 truy tố đối với Phạm Thị V A và đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện C để xét xử nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Riêng đối với việc bị cáo Bùi Công T A mua ma túy về sử dụng và cất dấu tại nhà của gia đình Phạm Thị V A là do một mình T A thực hiện không liên quan đến V A. Đồng thời, việc T A cất dấu ma túy để sử dụng, cùng các dụng cụ để sử dụng ma túy và 02 khẩu súng hơi, pháo tại nhà, thì V A không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với V A trong vụ án này là phù hợp.
* Đối với ông Phạm Đức H và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ của V A không biết việc bị cáo Bùi Công T A cất giấu ma túy, các dụng cụ sử dụng ma túy và 02 khẩu súng hơi, pháo tại nhà mình. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không xem xét xử lý đối với ông H và bà T là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Công T A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Công T A 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến cho đến ngày 26/5/2023
- Về trách nhiệm dân sự: Không có
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon trong suốt, kích thước (09x6,2) cm bên trong có chứa khối lượng 1,2292 gam ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) và 01 gói nylon trong suốt hàn kín 2 đầu, kích thước (3,5x1,2) cm bên trong có chứa khối lượng 0,0998 gam ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) là vật chứng của vụ án.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa, bên trong có chứa nước, nhãn hiệu Sting, nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, lỗ thứ nhất gắn 01 ống thủy tinh dạng chữ U, dài 21 cm, một đầu có bầu tròn, lỗ còn lại gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 28,5 cm; 02 ống thủy tinh, cùng dạng chữ U, kích thước dài 17 cm, một đầu có bầu tròn; 01 quẹt gas bằng nhựa trong, kích thước (08x02) cm đầu gắn ống kim loại dài 7,5 cm là vật chứng của vụ án. (Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C ngày 08/8/2023)
- Trả lại cho bị cáo Bùi Công T A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu tím, đen, số IMEL 353185440686048. Bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0763482345
* Về án phí: Bị cáo Bùi Công T A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - THADS huyện C; - Sở Tư pháp; - Phòng HSNVCA tỉnh Đ; - Bị cáo, bị hại; - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) LÊ LỢI |