vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CHÂU NGỌC T- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 14 – 02 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Nguyễn Phƣơng Thà;

Ông Hứa Thanh Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 378/2022/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Châu Ngọc T, sinh năm 1981; nơi thƣờng trú: Số A12, Quang Trung (số mới 625, Tân Sơn), Phƣờng 12, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Minh T1 và bà Nguyễn Thị T2; bị cáo có chồng Hứa Quang P (đã ly hôn) và 05 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 31 tháng 01 năm 2023.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Bạch M (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, Công an phƣờng Thuận Giao tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở trọ số 1/179 khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Tại thời điểm kiểm tra phòng số 19 có Châu Ngọc T cùng 03 ngƣời con nhỏ (gồm Châu Ngọc A, sinh năm 2011; Châu Ngọc M1, sinh năm 2016; Danh Ngọc M1, sinh năm 2020) đang thuê và sinh sống tại đây. Quá trình kiểm tra, lực lƣợng Công an phát hiện tại vị trí góc trong kệ bếp phía bên phải căn phòng trọ (hƣớng từ cửa chính nhìn vào) có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. T khai nhận bộ dụng cụ trên là của T dùng để sử dụng ma tuý tổng hợp (ma tuý đá), đồng thời T lấy từ trong tủ quần áo ra 02 túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng, khai nhận là ma túy tổng hợp (ma tuý đá) do T mua về cất giấu để sử dụng dần nên lực lƣợng Công an tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật, đƣa T về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ trên. Công an phƣờng Thuận Giao lập hồ sơ chuyển cho Công an thành phố Thuận An thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tang vật thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 (hai) túi nylon miệng kéo dính viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Ngày 02/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định trƣng cầu số 824 trƣng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, giám định: 02 (hai) túi nylon miệng kéo dính viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng đƣợc niêm phong trong 01 bì thƣ dán kín bên ngoài có chữ ký cán bộ niêm phong Võ Minh Trí, Phạm Minh Lộc (Phó trƣởng Công an phƣờng Thuận Giao), chữ ký của ngƣời có đồ vật, tài liệu bị niêm phong Châu Ngọc T, chữ ký của ngƣời chứng kiến Nguyễn Thị Bạch M và hình dấu mộc đỏ của Công an phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngày 07/9/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có Bản kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 07/9/2022, kết luận: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng (M1), là ma túy có khối lƣợng 0,9220 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng (M2), là ma túy có khối lƣợng 0,3585 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lƣợng là 1,2805 gam, loại Methamphetamine.

Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng hoàn lại mẫu vật sau giám định đƣợc niêm phong trong một Bì thƣ ghi số 417/PC09, bên trong có: 0,8838 gam ma túy loại Methamphetamine (M1); 0,2754 gam ma túy loại Methamphetamine (M2). Bên ngoài có chữ ký của Châu Ngọc T (ngƣời chứng kiến), Trần Hoàng Huy (cán bộ trả mẫu), Phan Trung Chính (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Quá trình điều tra Châu Ngọc T khai nhận do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên ngày 01/9/2022, T mua số ma túy trên với giá 1.000.000 đồng từ một ngƣời tên Phƣơng mang đến giao tại phòng trọ của T, sau đó T cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, khi T đang ở trong phòng trọ thì bị lực lƣợng Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ số ma túy trên.

Tại Bản cáo trạng số: 360/CT-VKS-TA ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Châu Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong sau giám định có số 417/PC09, chữ ký của Châu Ngọc T, cán bộ niêm phong Võ Minh Trí, đại úy Pham Minh Lộc phó trƣởng công an phƣờng, Nguyễn Thị Bạch M là ngƣời chứng kiến, con dấu của Công an phƣờng Thuận Giao, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố đối với bị cáo là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi của bị cáo; bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngƣời làm chứng vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến gì đối với Bản kết luận điều tra và Cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Bị cáo Châu Ngọc T có yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 31 tháng 01 năm 2023. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong nội dung đơn yêu cầu xét xử vắng mặt bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Trong biên bản giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp ngày 02/9/2022 (BL 04), bản tự khai ngày 02/9/2022 (BL 41) và các Biên bản ghi lời khai ngày 02/9/2022 (BL 45-48), 09/9/2022 (BL 49-50); biên bản hỏi cung bị can ngày 19/9/2022 (BL51-52)....Bị cáo Châu Ngọc T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02 tháng 9 năm 2022, tại phòng số 19; địa chỉ 1/179, khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Đội Cảnh sát điều ta tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an phƣờng Thuận Giao tiến hành kiểm tra phát hiện bị cáo T có hành vi tàng trữ 1,2805 gam ma túy loại Methamphetamine.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nƣớc về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bản thân bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng phạt nhƣng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong sau giám định có số 417/PC09, chữ ký của Châu Ngọc T, cán bộ niêm phong Võ Minh Trí, đại úy Pham Minh Lộc phó trƣởng công an phƣờng, Nguyễn Thị Bạch M là ngƣời chứng kiến, con dấu của Công an phƣờng Thuận Giao, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Đối với ngƣời thanh niên tên Phƣơng có hành vi bán ma túy cho bị cáo T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa có kết quả. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 106, Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong sau giám định có số 417/PC09, chữ ký của Châu Ngọc T, cán bộ niêm phong Võ Minh Trí, đại úy Pham Minh Lộc phó trƣởng công an phƣờng, Nguyễn Thị Bạch M là ngƣời chứng kiến, con dấu của Công an phƣờng Thuận Giao, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 12 năm 2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí: Bị cáo Châu Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai/.

Cỡ chữ