- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ.T.T.T phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đ.T.T.T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:30/2023/HS-ST Ngày: 07- 9- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Dhiễu HMok
2. Ông Ngu ễn V n Th c.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngu ễn Hoàng Y n -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Bà Ngu ễn Thị Bích Thủ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 n m 2023, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS, ngày 16 tháng 8 n m 2023 theo Qu t định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST- HS, ngày 25 tháng 8 n m 2023 đối với bị cáo:
Đ.T.T.T , sinh ngày 26/8/1977, tại tỉnh Q; Nơi cư trú: Số 121 Đ, tổ dân phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ v n hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ Hồng S và bà Ngu ễn Thị T (Đều đã ch t); có chồng Trần V n V, sinh n m 1966 và có 03 người con, con lớn nhất sinh n m 2000, con nhỏ nhất sinh n m 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2023 đ n ngà 20/6/2023. Đ n ngà 21/6/2023 bị áp dụng biện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đ n na . Hôm nay có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.D.N.H.A; Địa chỉ: Thôn Đ, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
2.H.N.T; Địa chỉ: TDP A, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt
3.B.T.N.H; Địa chỉ: Số 177L, phường T, TP.B, Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
N m 2018, T thuê kiốt của bà B.T.N.H ở địa chỉ số 09 N, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, để bán tạp hóa và bán vé số. Đ n khoảng tháng 4/2022, trong lúc đang bán vé số thì có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đ n gặp và đặt vấn đề với T về việc ghi số lô đề cho những ai có nhu cầu rồi gom lại chu ển cho người nà , thì T đồng ý. Khi mới ghi số đề, T nhận ghi và tổng hợp số đề rồi chu ển qua tin nhắn điện thoại cho người phụ nữ nà trước giờ qua xổ số ki n thi t, đ n trưa hoặc chiều ngà hôm sau có một người phụ nữ khác (không rõ nhân thân lai lịch) đ n tính tiền thắng, thua và trích lại cho T 27% trên tổng số tiền ghi được trong ngà . Đ n khoảng đầu n m 2023, do thường nhắn tin sai nên T chu ển sang vi t bằng giấ (phơi đề). Để thực hiện việc ghi phơi đề, T chuẩn bị 03 sấp giấ vở ô l đã được cắt thành dạng để ghi phơi đề, 01 cái bút bi, 09 tờ giấ than và 01 má tính học sinh hiệu Casio LC - 403TV làm công cụ ghi số đề cho những người đ n mua đề. Hình th c chơi số đề là sau khi thoả thuận với người mua số đề, T dùng giấ than đặt dưới giấ vở ô l để ghi số đề, số tiền mua, lô đề và nơi (gọi là Đài) mở thưởng rồi giao cho người mua đề giữ bản chính, đồng thời T giữ lại bản đồ giấ than để làm c n c trả tiền thắng cho người mua đề.
Cách th c chơi đề là hằng ngà c n c vào việc phát hành vé xổ số và k t quả mở thưởng của các công t xổ số cấp tỉnh, như: Công t sổ xố Đ.N , Q.N… (gọi là Đài); người mua số đề có qu ền lựa chọn số, cách đánh, số tiền mua và đài mở thưởng, như: Người mua số đề có 02 chữ số bao gồm đầu, đuôi và đánh kề (đầu là hai số của giải tám, đuôi là hai số cuối của giải đặc biệt, đánh kề là hai số cuối giải bả của đài mở thưởng); hoặc đánh đề có hai chữ số bao lô (là người mua đề mua toàn bộ từ hai số của giải tám đ n hai số cuối từ giải bả đ n giải đặc biệt của lô đề); tỷ lệ được thua 1/70 lần theo qu ước (mua 1000đ n u thắng thì được 70.000đ),… C n c vào k t quả mở thưởng xổ số của Đài mà người mua đề đã chọn để xác định thắng thua, n u người mua đề thắng thì chủ đề phải trả tiền thắng cho người mua đề theo như thỏa thuận ghi trong phơi đề, còn n u người mua đề thua thì thua h t số tiền đã mua đề. Theo qu ước khi mua số đề bao lô tính theo điểm, c 01 điểm bao lô tương ng với số tiền 14.000 đồng.
Như thường lệ, sáng ngày 10/6/2023, T đ n kiốt bán hàng ở chợ để bán hàng tạp hóa, bán vé số và ghi số đề. Khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, D.N.H.A và H.N.T đ n gặp T hỏi ghi số đề thì T đồng ý. A. ghi bao lô số 12, đặt 250 điểm ghi Đài xổ số Đ.N mở thưởng ngày 10 tháng 6 n m 2023, tương ng số tiền cược là 3.500.000 đồng. T. ghi bao lô số 46, đặt 175 điểm ghi Đài xổ số Đ.N mở thưởng ngày 10/6/2023, tương ng số tiền cược là 2.450.000 đồng. Khi T đang thực hiện việc mua bán số đề với A và T, khi k t quả xổ số ki n thi t Đ.N chưa qua số mở thưởng theo qu định, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.
Ngoài ra, T còn khai nhận, trước khi bị bắt quả tang trong ngày 10/6/2023, T đã nhận ghi số đề cho 06 đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đánh đài xổ số Đ.N , cụ thể: Người th nhất chọn (mua) số 07, đánh đầu với số tiền 10.000 đồng, đánh cuối với số tiền 10.000 đồng, đánh kề với số tiền 5.000 đồng; chọn (mua) số 47, đánh đầu với số tiền 10.000 đồng, đánh cuối với số tiền 10.000 đồng và đánh kề với số tiền 5.000 đồng; chọn (mua) số 87, đánh đầu với số tiền 10.000 đồng, đánh cuối với số tiền 10.000 đồng và đánh kề với số tiền 5.000 đồng; tổng số tiền người nà đánh là 75.000 đồng, tu nhiên T chỉ lấ tiền của người nà là 60.000 đồng. Người th hai chọn (mua) số 11, đánh đầu với số tiền 26.000 đồng, đánh cuối với số tiền 26.000 đồng và đánh kề với số tiền 26.000 đồng; chọn (mua) số 511 (k t quả mở thưởng phải trùng 03 chữ số phía sau cùng của giải đã chọn), đánh kề với số tiền 3.000 đồng, đánh cuối với số tiền 3.000 đồng; tổng số tiền người nà đánh là 84.000 đồng, tu nhiên T chỉ lấ tiền của người nà là 70.000 đồng. Người th ba chọn (mua) số 47, đánh bao lô 5 điểm với số tiền 70.000 đồng. Người th tư chọn (mua) số 92 và 17, đánh bao lô m i số 2 điểm với tổng số tiền là 56.000 đồng. Người th n m chọn (mua) số 09, đánh đầu với số tiền 100.000 đồng, đánh cuối với số tiền 10.000 đồng và đánh kề với số tiền 10.000 đồng; chọn (mua) số 309, đánh kề với số tiền 15.000 đồng và đánh cuối với số tiền 15.000 đồng; tổng số tiền người nà đánh là 150.000 đồng, tu nhiên T chỉ lấ tiền của người nà là 125.000 đồng. Người th sáu chọn (mua) số 03, đánh bao lô 3 điểm, đánh cả 03 đài mở thưởng xổ số ki n thi t ngà 10 tháng 6 n m 2023 là đài Đ.N , QN và Đ.N, m i đài 42.000 đồng, tổng ba đài là 126.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo T nhận ghi đề cho D.N.H.A, H.N.T và 06 đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) mở thưởng ngày 10/6/2023, của Công ty xổ số ki n thi t Đ, Q và Đ.N là 6.457.000 (Sáu triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
Tại k t luận giám định số 829/KL-KTHS, ngày 27/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, k t luận: chữ vi t ở mặt trước trên các tài liệu cần giám định kí hiệu từ A1 đ n A5 (là các tờ giấ ghi phơi đề thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội của tang) so với chữ vi t mang tên Đ.T.T.T trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đ n M5 là chữ vi t của cùng một người.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT - VKSBH, ngày 15/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố bị cáo Đ.T.T.T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ qu ền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 10 tháng 6 n m 2023 tại số 09 N, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép với hình th c ghi số đề cho D.N.H.A và H.N.T và 06 đối tượng không rõ nhân thân lai lịch với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.457.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đủ u tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó Viện kiểm sát giữ ngu ên qu t định tru tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đ.T.T.T từ 06 đ n 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 đ n 18 tháng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Cần tịch thu, tiêu hủ 03 sấp giấ vở ô l chưa ghi nội dung (Đ.T.T.T dùng để ghi nội dung đánh đề cho khách); 01 túi xách nữ màu đỏ nâu có in chữ GUESS?; 01 bút bi nhãn hiệu TL; 09 tờ giấ than và 01 má tính học sinh hiệu Casio LC - 403TV. Đâ là những công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
+ Cần tịch thu và sung công quỹ Nhà Nước đối với số tiền 6.457.000 (Sáu triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Đâ là số tiền bị cáo ghi đề mà có.
+ Đối với số tiền 14.201.000 (mười bốn triệu, hai trăm lẻ một nghìn đồng) thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang và 21.700.000 (Hai mươi mốt triệu, bảy trăm nghìn đồng) thu giữ trong quá trình khám xét nhà của bị cáo; 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung nắp gấp màu đen đã cũ, nhãn hiệu SGH-X160 và 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galax A51, màu xanh đen, số imel 1: 352353114996447, số imel 2: 352354114996445 thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định số tiền và 02 chi c điện thoại trên, bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn Hồ đã ra qu t định xử lý vật ch ng bằng hình th c trả lại cho bị cáo Đ.T.T.T là có c n c pháp luật.
+ Đối với các tài liệu thu giữ trên người Đ.T.T.T gồm 03 mảnh giấ (phơi đề) ghi bằng giấ than có các nội dung: “Đ Ng 10/6; 92 da 17/2; T 56”; “Đ Ng 10/6; Đ100 09 C10 K10; K15 309 C 15; T 125” ; “Đ Ng 10/6; 03/3 3Đ”; “Đ Ng 10/6; 12x 250 T 3500” ; “Đ Ng 10/6; 46x 175; T 2450”; “Đ Ng 10/6; Đ 10 07 C10 K5; Đ 10 47 C 10 K5; Đ 87 C10 K5 T60” ; “Đ Ng 10/6; Đ 26 11 C26 K 26; 3 511 3; T 70”; “Đ Ng 10/6; 47x5; T 70” (Đ.T.T.T ký tên xác nhận); Thu giữ trên người H.N.T 01 mảnh giấ (phơi đề) trên giấ có ghi nội dung bằng bút bi “Đ Ng 10/6; 46x 175; T2450” ; Thu giữ trên người D.N.H.A 01 mảnh giấ (phơi đề) trên giấ có ghi nội dung bằng bút bi “Đ Ng 10/6; 12x 250 T 3500”. Đâ là các phơi đề ghi nội dung các con số và số tiền đánh đề nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý ki n gì về quy t định truy tố và cũng không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, qu t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố đã thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục, qu định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, qu t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, qu t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 10 tháng 6 n m 2023 tại số 09 N, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép với hình th c ghi số đề cho D.N.H.A và H.N.T và 06 đối tượng không rõ nhân thân lai lịch với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.457.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Như vậ đã có đủ c n c để k t luận qu t định tru tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đối với bị cáo Đ.T.T.T về tội “Đánh bạc” theo qu định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có c n c , đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi, bổ sung n m 2017 qu định:
1.“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
...
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi ngu hiểm cho xã hội, trực ti p xâm phạm trật tự công cộng và dẫn đ n các hậu quả nghiêm trọng khác. Vì vậ , cần xử lý nghiêm và áp dụng m c hình phạt tương x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội nhằm đấu tranh ng n chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, s c khỏe và tài sản của công dân. Xét thấ không cần thi t phải cách l bị cáo ra khỏi xã hội mà cần cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của gia đình và xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục r n đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, n n n hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận th c về pháp luật có phần hạn ch . Đâ là những tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qu định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng xem xét khi qu t định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với D.N.H.A và H.N.T đã có hành vi mua số đề của bị cáo, nhưng số tiền sử dụng đánh bạc chưa đủ u tố cấu thành tội đánh bạc, hơn nữa A và T chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc. Nên cơ quan CSĐT xử phạt hành chính đối với An và Tính là có c n c pháp luật.
Đối với 06 đối tượng không rõ nhân thân lai lịch là người mua số đề của bị cáo T với tổng số tiền 507.000 đồng trong ngà 10/6/2023. Cơ quan điều tra đã ti n hành điều tra, xác minh nhưng không có c n c để xử lý.
Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận, khi mới bắt đầu ghi số đề bị cáo thường ghi và chu ển số đề qua tin nhắn điện thoại. Tu nhiên do thường đánh sai nên đầu n m 2023 bị cáo chu ển qua ghi trực ti p bằng phơi, do thời gian đã lâu nên bị cáo đã làm mất, thất lạc sim, điện thoại và không nhớ rõ nhân thân, lai lịch nhừng người đã ghi đề. Bên cạnh đó không có tài liệu ch ng c khác để ch ng minh. Do đó không có cơ sở để xử lý đối với những lần đánh bạc trái phép trước đó.
Đối với bà B.T.N.H, là người cho bị cáo thuê Kiốt để bán hàng tạp hoá và bán vé số. Việc bị cáo sử dụng làm địa điểm phạm tội, bà H không bi t nên CQCSĐT không xử lý là có c n c .
Đối với người phụ nữ đ n đặt vấn đề ghi số đề với bị cáo T, quá trình điều tra CQĐT đã ti n hành điều tra xác minh nhưng không làm rõ đươc nhân thân, lai lịch nên chưa đủ c n c để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Cần tịch thu, tiêu hủ 03 sấp giấ vở ô l chưa ghi nội dung (Đ.T.T.T dùng để ghi nội dung đánh đề cho khách); 01 túi xách nữ màu đỏ nâu có in chữ GUESS?; 01 bút bi nhãn hiệu TL; 09 tờ giấ than và 01 má tính học sinh hiệu Casio LC - 403TV. Đâ là những công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
+ Cần tịch thu và sung công quỹ Nhà Nước đối với số tiền 6.457.000 (Sáu triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Đâ là số tiền bị cáo ghi đề mà có.
+ Đối với số tiền 14.201.000 (mười bốn triệu, hai trăm lẻ một nghìn đồng) thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang và 21.700.000 (Hai mươi mốt triệu, bảy trăm nghìn đồng) thu giữ trong quá trình khám xét nhà của bị cáo; 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung nắp gấp màu đen đã cũ, nhãn hiệu SGH-X160 và 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galax A51, màu xanh đen, số imel 1: 352353114996447, số imel 2: 352354114996445 thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định số tiền và 02 chi c điện thoại trên, bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn Hồ đã ra qu t định xử lý vật ch ng bằng hình th c trả lại cho bị cáo Đ.T.T.T là có c n c pháp luật.
+ Đối với các tài liệu thu giữ trên người Đ.T.T.T gồm 03 mảnh giấ (phơi đề) ghi bằng giấ than có các nội dung: “Đ Ng 10/6; 92 da 17/2; T 56”; “Đ Ng 10/6; Đ100 09 C10 K10; K15 309 C 15; T 125” ; “Đ Ng 10/6; 03/3 3Đ”; “Đ Ng 10/6; 12x 250 T 3500” ; “Đ Ng 10/6; 46x 175; T 2450”; “Đ Ng 10/6; Đ 10 07 C10 K5; Đ 10 47 C 10 K5; Đ 87 C10 K5 T60” ; “Đ Ng 10/6; Đ 26 11 C26 K 26; 3 511 3; T 70”; “Đ Ng 10/6; 47x5; T 70” (Đ.T.T.T ký tên xác nhận); Thu giữ trên người H.N.T 01 mảnh giấ (phơi đề) trên giấ có ghi nội dung bằng bút bi “Đ Ng 10/6; 46x 175; T2450” ; Thu giữ trên người D.N.H.A 01 mảnh giấ (phơi đề) trên giấ có ghi nội dung bằng bút bi “Đ Ng 10/6; 12x 250 T 3500”. Đâ là các phơi đề ghi nội dung các con số và số tiền đánh đề nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đ.T.T.T phạm tội “Đánh bạc”.
C n c vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi, bổ sung n m 2017:
Xử phạt: Bị cáo Đ.T.T.T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngà tu ên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủ ban nhân dân phường An Bình, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính qu ền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, n u người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qu định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể qu t định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qu định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo tha đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qu định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủ 03 sấp giấ vở ô l chưa ghi nội dung (Đ.T.T.T dùng để ghi nội dung đánh đề cho khách); 01 túi xách nữ màu đỏ nâu có in chữ GUESS?; 01 bút bi nhãn hiệu TL; 09 tờ giấ than và 01 má tính học sinh hiệu Casio LC -403TV. Đâ là những công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
+ Tịch thu và sung công quỹ Nhà Nước đối với số tiền 6.457.000 (Sáu triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Đâ là số tiền bị cáo ghi đề mà có.
+ Chấp nhận cơ quan điều tra công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại cho bị cáo đối với số tiền 14.201.000 (mười bốn triệu, hai trăm lẻ một nghìn đồng) thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang và 21.700.000 (Hai mươi mốt triệu, bảy trăm nghìn đồng) thu giữ trong quá trình khám xét nhà của bị cáo; 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung nắp gấp màu đen đã cũ, nhãn hiệu SGH-X160 và 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galax A51, màu xanh đen, số imel 1: 352353114996447, số imel 2: 352354114996445 thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định số tiền và 02 chi c điện thoại trên, bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
+ Đối với các tài liệu thu giữ trên người Đ.T.T.T gồm 03 mảnh giấ (phơi đề) ghi bằng giấ than có các nội dung: “Đ Ng 10/6; 92 da 17/2; T 56”; “Đ Ng 10/6; Đ100 09 C10 K10; K15 309 C 15; T 125” ; “Đ Ng 10/6; 03/3 3Đ”; “Đ Ng 10/6; 12x 250 T 3500” ; “Đ Ng 10/6; 46x 175; T 2450”; “Đ Ng 10/6; Đ 10 07 C10 K5; Đ 10 47 C 10 K5; Đ 87 C10 K5 T60” ; “Đ Ng 10/6; Đ 26 11 C26 K 26; 3 511 3; T 70”; “Đ Ng 10/6; 47x5; T 70” (Đ.T.T.T ký tên xác nhận); Thu giữ trên người H.N.T 01 mảnh giấ (phơi đề) trên giấ có ghi nội dung bằng bút bi “Đ Ng 10/6; 46x 175; T2450” ; Thu giữ trên người D.N.H.A 01 mảnh giấ (phơi đề) trên giấ có ghi nội dung bằng bút bi “Đ Ng 10/6; 12x 250 T 3500”. Đâ là các phơi đề ghi nội dung các con số và số tiền đánh đề nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị qu t số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Đ.T.T.T phải chịu 200.000 (Hai tr m nghìn đồng) án phí Hình sự sơ
thẩm.
Về qu ền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngà , kể từ ngà tu ên án; người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngà kể từ nhận được bản án hoặc niêm t bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - CA thị xã Buôn Hồ; - THADS thị xã Buôn Hồ; - Bị cáo, đương sự; - Lưu HS, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (ĐÃ KÝ) Đinh Thị Hường |