- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày: 25-4-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Minh Chiến
2/ Ông Hồ Xuân Dũng
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu–Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hướng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST- HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 602/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đức T; sinh năm 1991 tại thị xã A, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: số nhà 39 đường Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ rửa xe; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đức H, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1955; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2023. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 21/01/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thị xã A phối hợp cùng Công an phường Đ, thị xã A tuần tra kiểm soát an ninh trật tự trên địa bàn phường Đập Đá thì phát hiện trước số nhà 39 đường Đ, phường Đ, thị xã A có Lê Đức T với những biểu hiện nghi vấn nên đã test nhanh chất ma túy với T cho kết quả dương tính với loại Methamphetamine. Tiếp tục kiểm tra bên trong túi áo khoác bên phải của T đang mặc thấy có một túi ny lông có kích thước (3,5x2)cm được bịt kín hàn hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật.
Quá trình điều tra xác định, vào tối ngày 21/01/2023, Lê Đức T do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã liên hệ với một người tên Phú (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) qua tài khoản Zalo để hỏi mua 500.000 đồng ma túy. Pđồng ý, hẹn T xuống ngã tư chợ Dinh thuộc phường N, thành phố Q để nhận. T điều khiển xe mô tô xuống điểm hẹn gặp P nhận 01 gói ma túy và trả tiền như đã thỏa thuận, sau đó cất số ma túy này vào túi áo khoác rồi điều khiển xe về nhà. Đến 01 giờ 15 phút cùng ngày, khi T về đến trước số nhà 39 đường Đ , phường Đ , thị xã A thì bị tổ công tác Công an thị xã A kiểm tra, bắt quả tang và tạm giữ cùng tang vật
Tại Bản kết luận giám định số 32/PC09 ngày 22/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận:
“Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A) đựng bên trong 01 (một) túi ny lông, kích thước (3,5x2)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4084 gam là (loại): Methamphetamine”
Vật chứng của vụ án:
- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
- 0,2919 gam mẫu A còn lại sau giám định.
- 01 (một) ống thuỷ tinh một đầu dạng hình trụ tròn, đầu còn lại uốn cong dạng hình cầu (gọi là bầu “nỏ”).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu vàng có số IMEI 355418071032663.
Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSAN ngày 04/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức T từ 18 - 24 tháng tù.
Về xử lý tang vật: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 0,2919 gam mẫu A ma túy còn lại sau giám định.
+ 01 (một) ống thuỷ tinh một đầu dạng hình trụ tròn, đầu còn lại uốn cong dạng hình cầu (gọi là bầu “nỏ”).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu vàng có số IMEI 355418071032663
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức T khai nhận: Xuất phát từ nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 21/01/2023 bị cáo có mua 01 gói Methamphetamine với số tiền 500.000 đồng của một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở thành phố Quy Nhơn, sau đó bỏ vào túi áo khoác mang về nhà. Đến 01 giời 15 phút cùng ngày, khi bị cáo về đến trước số nhà 39 đường Đ , phường Đ , thị xã A thì bị tổ công tác Công an thị xã A kiểm tra, bắt quả tang thu giữ 0,4084 gam ma túy loại Methamphetamine. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Bị cáo Lê Đức T là công dân đã trưởng thành, đủ nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, có trình độ văn hóa nhất định nhận thức được tác hại của ma túy, biết pháp luật nghiêm cấm đối với hành vi tàng trữ trái phép ma túy. Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo đã liên hệ với đối tượng tên P không rõ lai lịch qua mạng zalo để mua ma túy về để sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Đức T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 0,2919 gam mẫu A ma túy còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán niêm phong: dấu tròn “Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bình Định; chữ ký bên giao và bên nhận).
+ 01 (một) ống thuỷ tinh một đầu dạng hình trụ tròn, đầu còn lại uốn cong dạng hình cầu (gọi là bầu “nỏ”).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu vàng có số IMEI 355418071032663.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000đ theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Đức T 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/01/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 0,2919 gam mẫu A ma túy còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán niêm phong: dấu tròn “Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bình Định; chữ ký bên giao và bên nhận).
+ 01 (một) ống thuỷ tinh một đầu dạng hình trụ tròn, đầu còn lại uốn cong dạng hình cầu (gọi là bầu “nỏ”).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu vàng có số IMEI 355418071032663
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã A).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: Vụ án được xét xử công khai có mặt bị cáo nếu không đồng ý một phần hoặc toàn bộ bản án có quyền kháng cáo lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSNDTX. A; - Chi cục THADS thị xã A; - Công an TX. A; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thái Văn Hà |