- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày 25-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đón và ông Lê Xuân Thuật
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vinh Quy - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25/4/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2023/HSST ngày 07/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 13/4/2023, đối với bị cáo:
* Lò Văn C, sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú: Bản N, xã N1, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn S1 và con bà Lò Thị X (đều đã chết); có vợ là Lò Thị Đ và có 01 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1987, trú tại: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 15/12/2022 tại khu vực đường bê tông xóm Đống Vương, thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Công an xã T, huyện Y phát hiện Lò Văn C, sinh năm 1993, nơi thường trú: bản N, xã N1, huyện S, tỉnh Sơn La, hiện đang thuê trọ ở thôn D1, xã C1, thị xã M, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: trên tay phải của C 01 túi nilon – loại vỏ túi ngũ cốc dinh dưỡng màu vàng xanh, kích thước (35x25)cm, bên trong có 01 gói giấy màu trắng sọc xanh kích thước (3,5x1,5)cm bên trong chứa chất cục bột màu trắng (được niêm phong ký hiệu M1) và 01 bật lửa ga màu đỏ; thu tại túi quần phía trước bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2690. C khai nhận chất dạng cục bột màu trắng bị thu giữ là ma túy loại Heroine. Cùng ngày, Công an xã T có báo cáo và chuyển toàn bộ hồ sơ, người bị bắt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Lò Văn C ở thôn D1, xã C1, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Tại Bản kết luận giám định số 13/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là: 0,654gam là ma túy, là loại Heroine. Mẫu hoàn lại gồm 0,647g ma úy, loại Heroine được niêm phong giao cho Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên quản lý.
Quá trình điều tra theo Lò Văn C khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy. Khoảng 8 giờ 00 ngày 15/12/2022, Chung đi từ phòng trọ của mình ở thôn D1, xã C1, thị xã M, tỉnh Hưng Yên mục đích đi đến thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên mua ma túy về sử dụng. C đi nhờ xe mô tô của người đi đường đến khu vực thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì xuống xe, C đi bộ đến đoạn đường gần khu vực cây xăng Việt Nhật thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, mặc áo khoác màu trắng, quần dài màu xanh, đầu đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang y tế màu xanh ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không rõ biển số đang đỗ ở bãi đất trống, C tiến lại gần hỏi người ngày “anh có bán ma túy không” thì người này trả lời “có”, C bảo bán cho 300.000đồng tiền ma túy Heroin đồng thời tay trái C lấy tiền từ trong túi quần ra đưa cho người thanh niên này gồm 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đồng và 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đồng. Sau khi nhận được tiền, người thanh niên đưa lại cho C 01 túi nilon màu vàng – xanh loại vỏ túi ngũ cốc dinh dưỡng và nói bên trong có ma túy đấy rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. C cầm gói ma túy bằng tay phải và mở ra kiểm tra thấy bên trong túi nilon này có 01 gói giấy màu trắng sọc xanh kích thước khoảng (3,5x1,5)cm và 01 bật lửa ga màu đỏ; C mở gói giấy này ra thì thấy bên trong có chất cục bột màu trắng, biết đây là ma túy loại Heroin nên C gói lại và cầm ở tay phải đi tìm nơi vắng người qua lại để sử dụng thì bị Công an xã T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Về vật chứng thu giữ: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2690, màu đen, bên trong lắp 01 sim nhãn hiệu Viettel là tài sản của C không sử dụng vào việc phạm tội; Đối với 0,647g ma úy, loại Heroine hoàn lại sau giám định là của C, mục đích để sử dụng.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho C, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điểu tra Lò Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 35/CT-VKS-YM ngày 06/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lò Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lò Văn C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn C từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2022, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an xã T lập ngày 15/12/2022; Bản kết luận giám định số 13/KLKHTS (MT) ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 15/12/2022 tại khu vực đường bê tông xóm Đống Vương, thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,654g Heroine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng đều bị pháp luật cấm, nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ 0,654 gam ma tuý loại Heroin với mục đích để sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lò Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn C là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy: Bị cáo C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
- Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen bên trong lắp sim Viettel không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo không nhận lại, điện thoại đã cũ, hết giá trị sử dụng nên cho tịch thu tiêu huỷ
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn C 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2022.
4. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong có 0,647g ma tuý, loại Heroine; 01 túi nilon loại vỏ túi ngũ cốc mầu xanh-vàng; kích thước 25x35cm; 01 bật lửa ga mầu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen bên trong lắp sim Viettel.
(Vật chứ ng trên đã chuyển Chi cục Thi hà nh á n Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngà y 25/4/2023).
5. Về án phí: Bị cáo Lò Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - Công an huyện Y; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THA DS huyện Y; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |