- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Thọ.
Ông Trần Thanh Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST – HS, ngày 12 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 182/TB-TA ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Lương Văn T, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1986 tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Đ, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Thế V (đã chết) và bà Lâm Thị T2 (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án số 06/2015/HSST ngày 31/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xử phạt Lương Văn T 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: Tại bản án số 04/2013/HSST ngày 29-30-31/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội Đánh bạc, đã được xóa án tích; bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 19/01/2023 đến nay, có mặt.
- gư i l m chứng:
1. Anh Dương Văn M, sinh năm 1995, vắng mặt;
2. Anh Lương Quang K, sinh năm 1988, vắng mặt;
3. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1990, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 15 phút ngày 19/01/2023, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - Ma túy Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đến nhà triệu tập đối tượng Lương Văn T để xét nghiệm ma túy thì phát hiện tại túi áo khoác bên phải T treo trong phòng ngủ có 01 túi nilon trong suốt bên trong có 27 gói giấy nhỏ có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin và 02 gói giấy trắng kẻ ô ly bên trong có cục chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin, số tiền 1.850.000 đồng.
Lương Văn T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị Công an thu giữ là chất ma túy Heroin, do bản thân nghiện chất ma túy Heroin nên đã 02 lần đón xe khách từ nhà xuống khu vực ngã 3 N, thuộc thành phố L, tỉnh Lạng Sơn mua chất ma túy với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đem về sử dụng và chia nhỏ bán cho các con nghiện để kiếm lời, cụ thể: Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 14/01/2023, T mua 01 cục ma túy giá 1.500.000 đồng với người đàn ông trên đem về chia thành 10 gói nhỏ để sử dụng và bán lại cho những người sau: Bán cho Lương Quang K 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng vào khoảng 09 giờ ngày 16/01/2023 và khoảng 19 giờ ngày 17/01/2023 tại khu vực thôn P, xã Đ, huyện T1, tỉnh Lạng Son; Bán cho Nguyễn Ngọc H 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng vào khoảng 12 giờ ngày 16/01/2023 và khoảng 12 giờ ngày 17/01/2023 tại khu vực thôn P, xã Đ, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn; Bán cho Dương Văn M 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng vào khoảng 17 giờ ngày 16/01/2023 và khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/01/2023 tại khu vực thôn P, xã Đ, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn. Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 18/01/2023, T tiếp tục đi mua 01 cục ma túy giá 2.700.000 đồng với người đàn ông trên đem về nhà xẻ ra một ít để sử dụng và chia số ma túy còn lại thành 02 (hai) cục gói trong giấy trắng kẻ ô ly và 27 (hai mươi bảy) gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Đến 08 giờ 15 phút ngày 19/01/2023 thì bị Tổ Công tác Công an huyện Tràng Định phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 219/KL-KTHS, ngày 20/01/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn T đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 15,083 gam (đã trừ bì).
Tại bản Kết luận số 223/KL-KTHS ngày 28/01/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền 1.850.000 đồng tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSTĐ ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận sử dụng điện thoại vào việc phạm tội, số tiền 1.850.000 đồng bị thu giữ có 1.200.000 đồng là tiền do bán ma túy mà có, còn lại 650.000 đồng là tiền bị cáo đi làm thuê có được, không liên quan đến việc phạm tội.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; đề nghị áp dụng Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 09 năm đến 10 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã bị thu giữ, vật chứng không còn giá trị sử dụng; tịch thu số tiền do phạm tội mà có; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước tài sản dùng vào việc phạm tội; trả cho bị cáo số tiền không dùng vào việc phạm tội nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án; bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt những người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
Về hành vi cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật và các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Lương Văn T đã 06 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy Heroine cho các đối tượng nghiện, thu lợi 1.200.000 đồng trong khi đó bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích và với lượng ma túy thu giữ được là 15,083 gam (đã trừ bì). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và thực hiện hành vi rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, hành vi này là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tặng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Về tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 06/2015/HSST ngày 31/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, nay phạm tội được xác định là tái phạm nguy hiểm; tiền sự: Không có; về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu. Trên cơ sở đánh giá này, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vật chứng không có giá trị sử dụng. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước tài sản dùng vào việc phạm tội. Đối với số tiền 1.850.000 đồng thu giữ của Lương Văn T, xác định trong số tiền này có 1.200.000 đồng là tiền mua bán trái phép chất ma túy mà có, còn lại 650.000 đồng do bị cáo đi làm thuê có được không liên quan đến việc phạm tội cần trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với người đàn ông bán chất ma túy Heroin cho Lương Văn T, tại khu vực ngã 3 N thuộc thành phố L nhưng không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Lương Quang K, Dương Văn M, Nguyễn Ngọc H, được mua chất ma túy Heroine với Lương Văn T về sử dụng riêng lẻ. Hành vi này đã được Công an huyện Tràng Định ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ.
Đối với chiếc 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh có số thuê bao 0971689514. Qua điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy cần phải tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i , q khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1.Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma túy, bên trong có 01 gói giấy (cũ) và 01 túi nilon (cũ) đựng tổng cộng 15,083 gam ma túy và các vỏ bao gói (cũ).
3.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di dộng
Màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh, số IMEI 865613051395899, lắp 01 sim có số thuê bao 0971689514 đã qua sử dụng;
- Tịch thu số tiền 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng thu giữ của Lương Văn T
3.3. Trả cho Lương Văn T số tiền 650.000 (Sáu trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Số tiền 1.850.000 đồng thu giữ được đựng trong phong bì và niêm phong theo quy định).
(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Tr ng Định, theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 12/5/2023 giữa Chi cục Thi h nh án dân sự v Công an huyện Tr ng Định).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định; - Công an huyện Tràng Định; - Chi cục THADS huyện Tràng Định; - Bị cáo (qua nhà tạm giữ); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |