vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An Tuyên án 18/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Châu Long H phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Châu Long H 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (16/5/2023). Về trách nhi m dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Long H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Châu Long H phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN THẠNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 18-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Quân

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ Thị Hi u Ly – Thư ký T a án nhân dân huy n Tân Thạnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hai – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở T a án nhân dân huy n Tân Thạnh, ti n hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, đối với:

Bị cáo: Châu Long H; Sinh ngày: 22/10/1985; Nơi sinh: tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp B, xã K, huy n T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Vi t Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghi p: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Con ông Châu Văn C, sinh năm 1950 (đã ch t); Lê Thị L, sinh năm 1951; Vợ: Huỳnh Hồng T, sinh năm 1984 (đã ly hôn); Con: 01 người, sinh năm 2006; Tiền sự: Không; Tiền án: Không (Bị cáo có mặt tại phiên t a).

- Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị Kha L1, sinh năm: 1985.

Nơi thường trú: Ấp Đ, xã K, huy n T, tỉnh Long An.

Nơi ở hi n nay: Khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An.

+ Anh Lý Thanh N, sinh ngày: 05/02/2004.

Nơi thường trú: Ấp Đ, xã K, huy n T, tỉnh Long An.

Nơi ở hi n nay: Khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty T6. Địa chỉ: Tầng H T a nhà G, B P, phường F, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại di n theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N1 – Tổng giám đốc, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Số A H, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu N1: Ông Phạm Gia H1 – Trưởng ph ng thu hồi nợ gián ti p của Công ty T6 SAIGON

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Gia H1: Ông Lê Thanh T1, sinh năm: 1984 – Trưởng nhóm thu hồi của Công ty T6. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huy n T, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Vũ Đình T2, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An.

+ Bà Võ Thái Ngọc T3, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An.

+ Bà Châu Thị Diễm T4, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Ấp B, xã K, huy n T, tỉnh Long An.

+ Bà Lê Thị L, sinh năm: 1951. Địa chỉ: Ấp B, xã K, huy n T, tỉnh Long An.

+ Công ty TNHH Một thành viên T7. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An.

Người đại di n theo pháp luật: Bà Thái Thị X, sinh năm: 1985 –Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Ấp C, xã M, huy n C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Chị Đặng Thị Ngọc H2, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có văn bản xin vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp K, xã T, huy n T, tỉnh Long An.

+ Ông Dương Thanh X1, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huy n T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 15/01/2023, bà Nguyễn Thị Kha L1 cùng con ruột là Lý Thanh N đ n Công ty Trách nhi m hữu hạn T7 tại khu phố C, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An mua 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu xanh - nâu - đen, số khung: RLHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657 với giá 35.500.000 đồng, hình thức mua trả góp. Bà L1 trả trước số tiền 10.700.000 đồng, c n lại 24.800.000 đồng do Lý Thanh N đứng tên làm hợp đồng vay trả góp hàng tháng với Công ty T6, địa chỉ: Tầng H, 9, 10 T a nhà G, B P, Phường F, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản th chấp là xe mô tô trên. Sau khi mua xe mô tô bà L1 một mình điều khiển xe mô tô đ n nhà Châu Long H ở ấp B, xã K, huy n T, tỉnh Long An rước H đ n nhà bà L1 thuê ở khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An. Sau đó, H hỏi bà L1 mượn xe mô tô mục đích để sử dụng làm phương ti n đi lại thì bà L1 tin tưởng H nên đồng ý cho H mượn xe mô tô. Sau khi nhận được xe mô tô của bà L1, H nảy sinh ý định chi m đoạt xe mô tô của bà L1 bằng hình thức đem cầm cố xe mô tô mà H mượn được của bà L1 cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đ n khoảng 11 giờ cùng ngày, H sử dụng đi n thoại di động hi u S M62, gắn sim số 0334.475.723 liên lạc với Văn Đình T5 để cầm xe mô tô của bà L1 với giá 15.000.000 đồng, T5 đồng ý và hẹn gặp H tại gầm cầu K thuộc khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An giao xe mô tô cho T5 và nhận số tiền 15.000.000 đồng từ Thạch. Đ n khoảng 15 giờ cùng ngày, H gọi đi n thoại cho L1 nói đã đem xe mô tô của L1 đi cầm cố và hẹn L1 đ n ngày 27/01/2023 sẽ trả lại xe mô tô cho L1, do tin tưởng H nên bà L1 không tố giác hành vi của H đ n Cơ quan Công an. Đ n ngày 27/01/2023, bà L1 và N nhiều lần yêu cầu H trả lại xe cho mô tô nhưng H vẫn không trả. Đ n ngày 28/3/2023, bà L1 đ n Công an huy n T tố giác Châu Long H về hành vi “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản”. Qua điều tra Châu Long H tự nguy n khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản K t luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐG ngày 03/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n T. K t luận: 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657, chưa đăng ký biển số có giá trị 32.800.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSTT, ngày 21/8/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tân Thạnh truy tố bị cáo Châu Long H về tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo đã gây ra; các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Châu Long H phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản”.

- Về hình phạt chính: Đề nghị căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 38, 50 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Châu Long H từ ………………………………………………………………..

- Về vật chứng trong vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự;

Đề nghị:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu sơn xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657, chưa đăng ký biển số do bà Nguyễn Thị Kha L1 cùng con ruột là Lý Thanh N mua bằng hình thức trả góp, bà L1 đã trả trước số tiền 10.700.000 đồng, c n lại 24.800.000 đồng do Lý Thanh N đứng tên làm hợp đồng vay trả góp hàng tháng với Công ty T6, địa chỉ: Tầng H, 9, 10 T a nhà G, B P, Phường F, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

- 01 đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy M62 vỏ màu xanh, số seri: RF8RA0KCD4Z, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của Châu Long H sử dụng vào vi c thực hi n hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 đi n thoại di động hi u Nokia 222 đã qua sử dụng, số seri: 355142079779782 gắn kèm hai thẻ sim số thuê bao: 0974.164.694 và 0377.777.660 là tài sản hợp pháp của Văn Đình T5 không sử dụng vào vi c thực hi n hành vi phạm tội nên giao trả cho ông T5.

- Tiền Vi t Nam: 15.000.000 đồng do Châu Long H giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n T. Châu Long H đã vay tiền của ông T5 số tiền 15.000.000 đồng nên ông T5 được nhận 15.000.000đ.

- Về hình phạt bổ sung: đại vi n Vi n kiểm sát không có đề nghị.

Tại phiên t a, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và luận tội của Vi n kiểm sát đã nêu và không có ý ki n tranh luận.

Bị hại Nguyễn Thị Kha L1 và Lý Thanh N yêu cầu nhận lại xe mô tô. Nguyên đơn dân sự là Công ty T6 yêu cầu Lý Thanh N trả tiền cho Công ty theo đúng theo hợp đồng, trường hợp không trả tiền theo đúng hợp đồng thì yêu cầu giao xe mô tô trên cho Công ty để thanh lý hợp đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án là ông Văn Đình T5 yêu cầu Châu Long H trả lại số tiền 15.000.000 đồng và tính lãi suất 03%/tháng kể từ ngày 15/01/2023.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án là bà Lê Thị L không yêu cầu bị cáo trả số tiền 15.000.000 đồng đã đưa cho bị cáo để giao nộp cho Cơ quan Công an huy n T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án là bà Võ Thái Ngọc T3 không yêu cầu trong vụ án.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n T, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hi n đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng thực hi n đều phù hợp quy định pháp luật.

Tại phiên t a, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị T a án xét xử vắng mặt, đồng thời cũng đã được T a án ti n hành tống đạt hợp l Quy t định đưa vụ án ra xét xử, giấy tri u tập phiên t a. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án và người làm chứng trong vụ án.

Bị cáo Châu Long H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a. Có đủ cơ sở xác định được: Vào ngày 15/01/2023, tại khu phố A, thị trấn T, huy n T, tỉnh Long An, Châu Long H lợi dụng mối quan h quen bi t với bà Nguyễn Thị Kha L1 nên đã mượn xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại: Vision, màu xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657, chưa đăng ký biển số của bà Nguyễn Thị Kha L1 và anh Lý Thanh N (con ruột bà L1) vừa mới mua để sử dụng làm phương ti n đi lại. Sau đó, H nảy sinh ý định chi m đoạt xe mô tô trên bằng hình thức đem xe mô tô đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đ n khoảng 11 giờ cùng ngày, H cầm cố xe mô tô cho Văn Đình T5 với số tiền 15.000.000 đồng. Đ n khoảng 15 giờ cùng ngày, H đi n thoại cho L1 nói đã cầm xe của L1, H hẹn đ n ngày 27/01/2023 sẽ trả lại xe mô tô cho bà L1. Bà L1 tin tưởng lời hứa của H nên không tố giác hành vi của H đ n Cơ quan Công an. Đ n ngày 27/01/2023 và thời gian sau đó bà L1 và N nhiều lần yêu cầu H trả lại xe mô tô nhưng H vẫn không trả. Đ n ngày 28/3/2023, bà L1 đ n Công an huy n T tố giác hành vi của Châu Long H.

Tại thời điểm thực hi n hành vi chi m đoạt tài sản của bị hại, bị cáo Châu Long H có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực chịu trách nhi m hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ y u tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Châu Long H với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hi n với l i cố ý trực ti p, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đ n quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt theo đúng quy định pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và ph ng ngừa chung trên cơ sở xem xét các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, nhân thân của bị cáo.

Xét về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo:

Về tình ti t tăng nặng trách nhi m hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: Bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhi m hình sự.

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình ti t giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, xét thấy bị hại Nguyễn Thị Kha L1, Lý Thanh N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tự nguy n nộp số tiền 15.000.000đ để trả lại số tiền đã vay và cầm cố xe cho ông Văn Đình T5; bị cáo có mẹ già cần người chăm sóc, nuôi dưỡng; bị cáo đã nhiều lần được UBND huy n, xã khen thưởng về tham gia phong trào do địa phương tổ chức (các năm 2008, 2009, 2015, 2018, 2020 nên xem xét cho bị cáo hưởng tình ti t giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân của bị cáo:

Đ n thời điểm thực hi n hành vi phạm tội, bị cáo được tính là không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu vì đã 02 lần bị k t án và 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 27/9/2007, bị Toà án nhân dân huy n Thạnh Hoá, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2007/HSST ngày 27/9/2007, đã xoá án tích; Ngày 20/02/2012, bị Toà án nhân dân huy n Tân Thạnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2012/HSST ngày 20/02/2012, đã xoá án tích; Ngày 26/6/2020, bị Công an huy n T ra Quy t định xử phạt vi phạm hành chính số 147/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh bạc”, với số tiền 1.500.000 đồng, đã đóng phạt; Ngày 10/8/2021, bị Công an huy n T ra Quy t định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPHC về hành vi “Không chấp hành các bi n pháp ph ng, chống dịch b nh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan tổ chức có thẩm quyền và Đánh bạc trái phép”, với số tiền 11.500.000 đồng, đã đóng phạt vào ngày 16/8/2021.

Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, hưng vẫn không chịu tu dưỡng và ti p tục phạm tội thể hi n bị cáo không bi t ăn năn, hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và ph ng ngừa chung.

Từ những phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: đối với tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản”, bị cáo c n có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhi m chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đ n 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sảntheo khoản 5 điều 175 BLHS. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghi p, không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với ông Văn Đình T5, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án, ông T5 có hành vi nhận cầm cố tài sản là 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657 từ bị cáo Châu Long H. Tuy nhiên, ông T5 không bi t xe mô tô H cầm cố cho ông là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác, H đã thông qua giao dịch mượn tài sản để chi m đoạt thông qua hình thức cầm cố cho ông T5. Do đó, hành vi của Văn Đình T5 không phạm tội tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n T không xem xét xử lý Văn Đình T5 là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, Văn Đình T5 nhận cầm cố tài sản của người khác nhưng không có Giấy chứng đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đủ điều ki n về an ninh, trật tự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra văn bản số 143/CSĐT-ĐTTH ngày 01/8/2023 đề nghị Công an huy n T xử lý vi phạm hành chính đối với Văn Đình T5.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án là bà Võ Thái Ngọc T3,

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án là bà Lê Thị L: Số tiền 15.000.000 đồng mà bị cáo Châu Long H nộp tại cơ quan điều tra để phục vụ cho vi c điều tra vụ án là của L cho bị cáo nhằm giảm trẹ trách nhi m hình sự. Bà L không yêu cầu bị cáo trả lại nên không đề cấp giải quy t trong vụ án.

Xét thấy Châu Long H đã vay tiền của ông T5 số tiền 15.000.000 đồng và cầm cố xe xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu sơn xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657 cho ông T5, ông T5 không bi t tài sản do Châu Long H phạm tội mà có. Ông T5 đã giao nộp xe mô tô này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n T. Ông T5 yêu cầu Châu Long H trả lại số tiền đã vay cho H vay và tiền lãi chậm trả là có cơ sở. Tuy nhiên, về mức lãi suất ..

Về vật chứng:

Đối vối 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu sơn xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657, chưa đăng ký biển số do bà Nguyễn Thị Kha L1 và anh Lý Thanh N mua bằng hình thức trả góp, bà L1 đã trả trước số tiền 10.700.000 đồng, c n lại 24.800.000 đồng do anh Lý Thanh N đứng tên làm hợp đồng vay trả góp hàng tháng với Công ty T6, địa chỉ: Tầng H, 9, 10 T a nhà G, B P, Phường F, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh N đã trả góp được số tiền 12, m i tháng trả 2.881.714 đồng, bắt đầu từ ngày 12/02/2023 đ n ngày 12/01/2024. Tính đ n thời điểm tháng 7/2023 anh N còn phải trả cho Công ty T6 SAISON theo hợp đồng số tiền 5.183.284 đồng.

Tại phiên t a, giữa người đại di n theo pháp luật của Công ty T6 và bà Nguyễn Thị Kha L1, anh Nguyễn Thanh N2 thỏa thuận được với nhau về vi c Công ty T6 SAISON đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kha L1, anh Nguyễn Thanh N2 nhận lại xe, bà Kha L1, anh N2 có nghĩa vụ ti p tục trả số tiền c n nợ theo hợp đồng vay cho Công ty T6. N u bà Kha L1, anh N2 không thực hi n đúng nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì Công ty T6 sẽ thực hi n ch tài đã quy định trong hợp đồng hoặc khởi ki n để giải quy t tranh chấp dân sự trong vụ án khác.

Do đó, giao trả xe mô tô xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu sơn xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657 cho bà Nguyễn Thị Kha L1 và anh Nguyễn Thanh N2 quản lý. Giữa bà Nguyễn Thị Kha L1, anh Nguyễn Thanh N2 và Công ty tự giải quy t với nhau theo các quy định tại hợp đồng dân sự đã ký k t. N u có tranh chấp sẽ được khởi ki n để giải quy t trong vụ ki n dân sự khác.

Đối với 01 đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy M62 vỏ màu xanh, số seri: RF8RA0KCD4Z, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của Châu Long H sử dụng vào vi c thực hi n hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 đi n thoại di động hi u Nokia 222 đã qua sử dụng, số seri: 355142079779782 gắn kèm hai thẻ sim số thuê bao: 0974.164.694 và 0377.777.660 là tài sản hợp pháp của Văn Đình T5 không sử dụng vào vi c thực hi n hành vi phạm tội nên giao trả cho ông T5.

Đối với số tiền Vi t Nam 15.000.000 đồng do Châu Long H giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n T, hi n vật chứng đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huy n Tân Thạnh quản lý theo thẩm quyền. Ông Văn Đình T5 được nhận 15.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huy n Tân Thạnh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí T a án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Châu Long H phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chi m đoạt tài sản”.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Châu Long H 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (16/5/2023).

3. Về trách nhi m dân sự:

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Giao trả xe mô tô xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, màu sơn xanh - nâu - đen, số khung: LHJK031XNZ336907, số máy: JK03E-6139657 cho bà Nguyễn Thị Kha L1 và anh Nguyễn Thanh N2 quản lý.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy M62 vỏ màu xanh, số seri: RF8RA0KCD4Z, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của Châu Long H sử dụng vào vi c thực hi n hành vi phạm tội.

Giao trả cho ông Văn Đình T5 01 đi n thoại di động hi u Nokia 222 đã qua sử dụng, số seri: 355142079779782 gắn kèm hai thẻ sim số thuê bao: 0974.164.694 và 0377.777.660.

Ông Văn Đình T5 được nhận 15.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huy n Tân Thạnh.

Hi n vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huy n Tân Thạnh đang tạm giữ theo Quy t định chuyển vật chứng số 20/QĐ-VKSTT, ngày 28/8/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tân Thạnh.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quy t định có liên quan đ n quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án vắng mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quy t định có liên quan đ n quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm y t.

Cỡ chữ