vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 06 (sáu) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày 27-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tạo và ông Trần Văn Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Tạ Phong Linh - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 13/7/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh ngày 06/5/1997; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lái máy công trình; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

* Về nhân thân:

+ Ngày 23/3/2023, bị TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST;

+ Ngày 23/10/2019, bị TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST;

+ Ngày 28/9/2015, bị TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2015/HSST;

+ Ngày 15/7/2020, bị Chủ tịch UBND huyện Quảng Trạch xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/3/2023 đến ngày 10/3/2023 chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đồng Thị Lê N, sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Ngọc S. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 27/02/2023, Nguyễn Minh T đi tới quán cà phê ở phường Quảng Long, thị xã Ba Đồn gặp một người đàn ông có tên thường gọi là “Chó” (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể); qua trò chuyện, T biết người đàn ông này bán ma túy. Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên T đã hỏi mua ma túy dạng hồng phiến với số tiền 6.000.000 đồng, người đàn ông này đưa cho T một túi ni lông màu xanh bên trong có chứa ma túy hồng phiến, dạng viên nén có màu hồng và màu xanh. T không đếm số lượng ma túy trong túi ni lông, sau khi hai bên trao đổi ma túy và tiền xong, T đem số ma túy trên về phòng trọ đang thuê tại thôn Phú Lộc 4, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch. Tại phòng trọ, T sử dụng hết 02 viên ma túy, số ma túy còn lại T chia ra để cất giấu, cụ thể: T lấy 28 (hai mươi tám) viên ma túy hồng phiến màu hồng bọc lại bằng hai mảnh ni lông màu đen và trắng, rồi giấu trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng; lấy 02 (hai) viên ma túy hồng phiến màu hồng cất ở túi quần sau bên phải; lấy 21 (hai mươi mốt) viên ma túy hồng phiến màu hồng và 02 (hai) viên ma túy hồng phiến màu xanh bỏ vào một hộp nhựa màu trắng có nắp màu xanh, rồi đem giấu ở hông nhà trước bên phải; số ma túy còn lại, gồm 135 (một trăm ba mươi lăm) viên ma túy hồng phiến màu hồng và 02 (hai) viên ma túy màu xanh, T cất giấu ở bàn thờ trong phòng bếp phòng trọ. T khai nhận cất giấu số ma túy trên ở nhiều vị trí để thuận tiện cho việc sử dụng của bản thân. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 28/02/2023, T mặc chiếc quần và cầm vỏ bao thuốc lá có cất giấu ma túy trước đó, điều khiển xe mô tô Honda SH125i, biển kiểm soát 73E1-472.71 di chuyển ra xã Quảng Đông để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến gần Trạm thu phí TASCO Quảng Phú, nhìn thấy Tổ công tác của Công an huyện Quảng Trạch phối hợp với Tổ tuần tra Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình ra hiệu lệnh dừng phương tiện. Do hoảng sợ nên T đã thả rơi vỏ bao thuốc lá có giấu ma túy đang cầm ở tay trái xuống lề đường bên phải theo hướng đi cách vị trí Tổ công tác khoảng 05 m về hướng Nam, sau đó mới dừng xe tại vị trí Tổ công tác đón dừng. Tiến hành kiểm tra trên người của Nguyễn Minh T phát hiện trong túi quần sau, bên phải đang mặc có 02 (hai) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu hồng; đưa T đến vị trí vỏ bao thuốc lá mà T thả rơi để kiểm tra, phát hiện bên trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng có 01 gói ni lông được bọc bằng hai mảnh ni lông (một màu đen, một màu trắng), bên trong chứa 28 (hai mươi tám) viên ma túy hồng phiến, màu hồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ các vật chứng liên quan.

Về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ: 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng; 01 (một) mảnh ni long màu đen và 01 (một) mảnh ni long màu trong suốt, đều không xác định được hình dạng, kích thước; 01 (một) chai nhựa, nắp chai màu xanh, thân chai màu trắng trong suốt, cao 07 (cm), đường kính đáy 02 (cm), đường kính nắp chai 1,5 (cm); 01 (một) túi ni long màu xanh, kích thước 07 cm x 09 cm; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen, BKS 73E1-472.71, số khung RLHJF9503NY137958, số máy: JF95E0153049, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “226/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký, do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình niêm phong hồi 11 giờ 10 phút ngày 07 tháng 3 năm 2023, bên trong có chứa chất ma túy. Đã xử lý trả lại xe Honda SH125i, biển kiểm soát 73E1-472.71 cho chị Đồng Thị Lê N, đối với vật chứng còn lại được chuyển xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 226/KL-KTHS ngày 07/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận:

- Mẫu kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,183g (không phẩy một trăm tám mươi ba gam);

- Mẫu kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 2,485g (hai phẩy bốn trăm tám mươi lăm gam);

- Mẫu kí hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 13,809g (Mười ba phẩy tám trăm linh chín gam);

- Mẫu kí hiệu A4 gửi giám định không phải là chất ma túy, khối lượng 0,338g (Không phẩy ba trăm ba mươi tám gam).

Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine mà bị cáo đã tàng trữ trái phép là 16,477g (Mười sáu phẩy bốn trăm bảy mươi bảy gam).

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSQT ngày 30 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 05 năm đến 06 năm tù; về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) vỏ bao thuốc lá; 01 (một) mảnh ni long màu đen và 01 (một) mảnh ni long màu trong suốt; 01 (một) chai nhựa; 01 (một) túi ni long màu xanh; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “226/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký, do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình niêm phong hồi 11 giờ 10 phút ngày 07 tháng 3 năm 2023, bên trong có chứa chất ma túy (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 23/6/2023); về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố, kết tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T đã thừa nhận và thống nhất khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy mà mình đã thực hiện. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 11 giờ ngày 27/02/2023, Nguyễn Minh T đã gặp một người đàn ông có tên gọi là “Chó” ở phường Quảng Long (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy dạng hồng phiến với số tiền 6.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đem số ma túy trên về phòng trọ đang thuê tại thôn Phú Lộc 4, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch sử dụng hết 02 viên ma túy, số ma túy còn lại T chia ra để cất giấu ở nhiều vị trí khác nhau để thuận tiện cho việc sử dụng ma túy của bản thân. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 28/02/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, biển kiểm soát 73E1-472.71 di chuyển ra xã Quảng Đông để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác của Công an huyện Quảng Trạch phối hợp với Tổ tuần tra Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ các vật chứng có liên quan.

Xét thấy, lời khai nhận hành vi phạm tội trên của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Chất ma túy mà bị cáo tàng trữ là Methamphetamine, có khối lượng 16,477g. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nói chung và gây nên sự bức xúc đối với nhân dân trên địa bàn nói riêng. Theo quy định tại Danh mục IIC, ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy dược sử dụng hạn chế trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, điều tra tội phạm hoặc y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, do vậy mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển hay tàng trữ trái phép chất ma túy này đều phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có đủ khả năng để nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại của ma túy mang lại nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu, mục đích bản thân nên đã coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần quyết định một hình phạt tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra. Nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân thì bị cáo đã bị Tòa án xét xử nhiều lần, đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Đặc biệt, trong khi đang trong thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án “Gây rối trật tự công cộng” bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và bị xét xử trong vụ án này. Điều này thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật, do vậy cần phải bị xử lý nghiêm minh.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Nguyễn Minh T trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho bị cáo.

Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tại Trại giam, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo tiến bộ, sớm trở lại là công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 23/3/2023, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Đối với khai nhận của bị cáo về việc mua ma túy từ đối tượng tên gọi là “Chó” tại một quán cà phê thuộc phường Quảng Long, thị xã Ba Đồn (Tâm không nhớ rõ tên và vị trí của quán). Quá trình điều tra không chứng minh được tội phạm, không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này, do vậy không có căn cứ, không có cơ sở xử lý.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã tạm giữ vật chứng liên quan để điều tra và đã tiến hành xử lý trả lại xe Honda SH125i, biển kiểm soát 73E1-472.71 cho chị Đồng Thị Lê N theo quy định của pháp luật. Đến tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với: 01 (một) vỏ bao thuốc lá; 01 (một) mảnh ni long màu đen và 01 (một) mảnh ni long màu trong suốt; 01 (một) chai nhựa; 01 (một) túi ni long màu xanh; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “226/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký, do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình niêm phong hồi 11 giờ 10 phút ngày 07 tháng 3 năm 2023, bên trong có chứa chất ma túy. Xác định, đây là vật chứng thuộc trường hợp vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị, không sử dụng được nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 06 (sáu) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù. Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 10/5/2022 đến ngày 24/8/2022 theo bản án số 11/2023/HS-ST ngày 23/3/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 01/3/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh T với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/7/2023) theo Quyết định của Hội đồng xét xử.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) vỏ bao thuốc lá; 01 (một) mảnh ni long màu đen và 01 (một) mảnh ni long màu trong suốt; 01 (một) chai nhựa; 01 (một) túi ni long màu xanh; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “226/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký, do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình niêm phong hồi 11 giờ 10 phút ngày 07 tháng 3 năm 2023, bên trong có chứa chất ma túy.

Vật chứng có tình trạng, đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 23/6/2023.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ