vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Nguyễn Văn Th, Phan Đức H, Phan Văn T, Phạm Quang Q, Phạm Quang Đ, Nguyễn Trí D, Đào Văn H, Lưu Văn T, Đào Mạnh H, Hoàng Anh T, phạm tội “Đánh bạc”.

1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 58; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; tuyên phạt: Nguyễn Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đinh T cùng đồng bọn " Đánh bac" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Nguyễn Văn Th, Phan Đức H, Phan Văn T, Phạm Quang Q, Phạm Quang Đ, Nguyễn Trí D, Đào Văn H, Lưu Văn T, Đào Mạnh H, Hoàng Anh T, phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 08/6/2023
V/v Nguyễn Đình Tcùng đồng bọn bị
truy tố về tội “Đánh bạc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Thanh Xuân

2. Ông Nguyễn Đức Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 05 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình T; Sinh năm 1983. HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Nguyễn Đình Tiến và con bà Phan Thị Phú; Có 03 anh em ruột, bị can là con út; Có vợ Lê Thị Tâm và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Vũ Văn H; Sinh năm 1981. HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Vũ Văn Mỹ (đã chết)và con bà Nguyễn Thị Thanh (tên gọi khác là Hạnh); Có 05 anh em ruột, bị cáo là con út; Có vợ là Đào Thị Nhung và có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Phan Đức H (Tên gọi khác là B); Sinh năm 1981. HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Phan Văn Phong (đã chết) và con bà Đào Thị Hồng; Có 03 anh em ruột, bị can là con út; Có vợ là Hoàng Thị Thơm và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án: Ngày 10/6/2020 bị TAND huyện Phú Xuyên tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 30 tháng. Chấp hành xong ngày 10/12/2022. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 17/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Phan Văn T; Sinh năm 1982. HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Phan Văn Hưng (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Phương; Có 03 anh em ruột, bị cáo là con lớn nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Nguyễn Văn Th; Sinh năm 1981; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Nguyễn Văn Long (đã chết) và con bà Lê Thị Thuyền; Có vợ là Phạm Thị Thuỳ và có 04 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2021. Có 03 anh em ruột, bị cáo là con lớn nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Đào Văn H; Sinh năm 1975; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Đào Văn Xuân (đã chết)và con bà Nguyễn Thị Loan; Có vợ là Nguyễn Thị Thu và có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2016. Có 03 anh em ruột, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 17/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

7. Phạm Quang Q; Sinh năm 1981; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Phạm Quang Quý và con bà Nguyễn Thị Kiểm; Có vợ là Nguyễn Thị Hòa và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2013. Có 03 anh em ruột, bị cáo là lớn nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 17/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

8. Lưu Văn T; Sinh năm 1982; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Lưu Văn Th (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013. Có 02 anh em ruột, bị cáo là lớn nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

9. Đào Mạnh H; Sinh năm 1988; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Đào Văn Toàn và con bà Phan Thị Nguyệt; Có vợ là Hoàng Thị Thu và có 01 con, lớn sinh năm 2017. Có 03 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

10. Phạm Quang Đ; Sinh năm 1983; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Phạm Quang Tạo và con bà Nguyễn Thị Nga; Có vợ là Nguyễn Thị My và có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh 2020. Có 03 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

11. Hoàng Anh T; Sinh năm 1983; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Hoàng Văn Ngọc và con bà Phan Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị T và có 01 con, sinh năm 2019. Có 03 anh em ruột, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không. Bị caó bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

12. Nguyễn Trí D 1982; Sinh năm 1983; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Nguyễn Đức Th và con bà Hoàng Thị H; Có vợ là Đồng Thị T và có 02 con, sinh năm 2012, nhỏ sinh 2015. Có 02 anh em ruột, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 13/01/2023 thì được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Đào Tấn B, sinh năm 1982

- Phan Quốc Tr, sinh năm 1983.

- Phạm Quang Nh, sinh năm 1982.

Đều trú tại: Thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, Hà Nội.

- Phan Đình H, sinh năm 1975.

- Phan Quốc H, sinh năm 1996.

Đều trú tại: Thôn L, xã D, huyện X, Hà Nội.

Anh B, anh Tr, anh Nh có mặt. Anh H, anh H vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Khoảng 16 giờ 30 ngày 08/01/2023 tại tầng 3 nhà vợ chồng anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị Th cùng trú tại thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Công an huyện Phú Xuyên đã bắt quả tang các đối tượng Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Hoàng Anh T, Phạm Quang Q, Lưu Văn Tn, Phạm Quang Đ, Phan Văn T, Phan Đức H, Đào Văn H, Đào Mạnh H, Nguyễn Văn Th đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức xóc đĩa. Các đối tượng Đào Tấn B, Phan Quốc Tr; Phạm Quang Nh Phan Đình H, Phan Quốc H đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh liêng.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc đánh xóc đĩa: 01 bộ bát, đĩa bằng sứ và 04 quân vị và 8.700.000 đồng . Thu trên người của các đối tượng: Vũ Văn H: 4.000.000 đồng, Nguyễn Văn Th 4.000.000 đồng, Nguyễn Đình Tú 500.000 đồng, Phạm Quang Q 1.500.000 đồng, Lưu Văn T 6.400.000 đồng, Phạm Quang Đạt 2.100.000 đồng, Phan Văn Toán 600.000 đồng và Đào Mạnh Hà 5.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ tại chiếu đánh liêng gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu và 990.000 đồng. Thu giữ trên người của các đối tượng: Đào Tấn Ba: 150.000 đồng, Phan Đình Hiệp: 460.000 đồng, Phạm Quang Nhã: 1.080.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận:

Vào khoảng 13 giờ 30, ngày 08/01/2023 sau khi ăn xong tiệc tân gia tại nhà anh Huy, chị Thu, thì có 08 người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, tại tầng 3 nhà anh Huy gồm: Nguyễn Đình Tú, Vũ Văn Hồng, Phạm Quang Quyến, Lưu Văn Tiên, Phạm Quang Đạt, Phan Văn Toán, Hoàng Anh Tú và Nguyễn Trí Dũng. Trước khi chơi Dũng lấy bộ bài chắn cắt 4 quân vị hình tròn, Hồng lấy bộ bát, đĩa sứ, trải chiếu có sẵn ở đó và xóc cái cho cả bọn chơi. Cả nhóm quy định luật chơi: Bên tay trái người xóc cái là mặt lẻ, bên tay phải người xóc cái là mặt chẵn. Ai chơi bên nào, đặt tiền vào bên đó. Người xóc cho quân vị vào bát đĩa xóc lên, khi mở bát, nếu về lẻ (một hoặc 02 quân cùng vị), thì người đặt tiền bên lẻ được người xóc cái trả cho số tiền đúng bằng số tiền đã đặt trước đó, đương nhiên người đặt tiền bên chẵn thua số tiền đã đặt trước đó. Ngược lại nếu mở bát ra về chẵn (02 hoặc 04 quân cùng vị) người đặt tiền mặt chẵn được ăn và người đặt tiền mặt lẻ thua số tiền đã đặt trước đó. Trong quá trình chơi thì có thêm 04 người là Phan Đức Hay, Đào Mạnh Hà, Đào Văn Hạ, Nguyễn Văn Thọ tham gia đánh bạc. Sau đó, riêng Nguyễn Trí Dũng có chơi 01- 02 ván rồi bỏ về trước, Hồng đổi cái cho Đình Tú khi xóc cái cho cả nhóm chơi. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Về số tiền đánh xóc đĩa, các bị cáo khai nhận:

+ Vũ Văn Hồng mang theo khoảng 3.700.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt có 4.000.000 đồng (thắng 300.000 đồng).

+ Nguyễn Đình Tú mang theo 1.000.000 đồng, dùng để đánh bạc, quá trình chơi thắng bạc 1.500.000 đồng, cho Phan Đức Hay vay 2.000.000 đồng. Khi bị bắt còn 500.000 đồng.

+ Lưu Văn Tiên mang theo 1.300.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị có 6.400.000 đồng (thắng 5.100.000 đồng).

+ Đào Mạnh Hà mang theo 1.200.000 đồng dùng để đánh bạc, khi chơi cho Toán vay 1.000.000 đồng, khi bị bắt có 5.000.000 đồng (thắng 3.800.000 đồng).

+ Nguyễn Văn Thọ mang theo 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bắt còn 4.000.000 đồng.

+ Phạm Quang Đạt mang theo 2.500.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt còn 2.100.000 đồng.

+ Phạm Quang Quyến mang theo 2.000.000 đồng, dùng để đánh bạc. Khi chơi xóc đĩa thắng khoảng 700.000 - 800.000 đồng, cho Hạ vay 1.000.000 đồng, chuyển sang đánh liêng thua khoảng 200.000 đồng, còn khoảng 1.600.000 đồng, quay lại chơi xóc đĩa, khi bị bắt còn 1.500.000 đồng.

+ Phan Văn Toán mang theo khoảng 1.500.000 đồng sử dụng để đánh bạc và thua hết, tiếp tục vay của Hà 1.000.000 đồng, khi bị bắt còn 600.000 đồng.

+ Phan Đức Hay vay của Nguyễn Đình Tú 2.000.000 đồng và thua hết

+ Hoàng Anh Tú mang theo khoảng 600.000 đồng và thua hết.

+ Đào Văn Hạ mang theo khoảng 60.000 đồng để chơi liêng và thua hết. Sau đó vay của Quyến 1.000.000 đồng để chơi chơi xóc đĩa và cũng thua hết.

+ Nguyễn Trí Dũng mang theo 200.000 đồng chơi hết thì đi về.

Tổng số tiền thu tại chiếu bạc xóc đĩa là 8.700.000 đồng và và thu giữ trên người các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 24.100.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 32.800.000 đồng.

Đối với các đối tượng Đào Tấn B, Phan Quốc Tr; Phạm Quang Nh Phan Đình H, Phan Quốc H đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh liêng. Trong tổng số tiền bị thu giữ 2.680.000 đồng, thì số tiền dùng để đánh bạc, chỉ có 1.680.000 đồng. Số tiền không dùng vào việc đánh bạc (của Phạm Quang Nhã) là 1.000.000 đồng. Dưới mức khởi điểm của khoản 1 điều 321 của nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính các đối tượng này.

Đối với chủ nhà là anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị Th, không tham gia đánh bạc và cũng không có hành vi tổ chức cho các bị cáo và những người liên quan đánh bạc, cơ quan điều tra truy tố không xem xét trách nhiệm hình sự.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 26/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Hoàng Anh T, Phạm Quang Q, Lưu Văn T, Phạm Quang Đ, Phan Văn T, Phan Đức H, Đào Văn H, Đào Mạnh H, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Trí D, về tội về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa, phần xét hỏi: Nguyễn Đình T thành khẩn khai nhận, Chiều ngày 08/1/2023, sau khi đã ăn liên hoan về nhà mới tại nhà anh H, T đã cùng các bị cáo khác rủ nhau đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức “Xóc đĩa”, bị cáo tham gia đánh bạc, cầm xóc cái với số tiền là 1.000.000 đồng. Quá trình chơi, các bị cáo tự rủ nhau đánh bạc, chủ nhà không biết và không tham gia,không có sự phân công, phân nhiệm hoặc thu tiền phế, tiền hồ vv… Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, thì bị Công an huyện Phú Xuyên bắt quả tang. Bị cáo truy tố về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan sai, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Các bị cáo còn lại thành khẩn khai nhận đã rủ nhau tham đánh bạc vào ngày 08/1/2023 tại nhà của anh Huy, chị Thu và bị cơ quan Công an bắt quả tang với số tiền đánh bạc 32.800.000 đồng là đúng, không oan sai. Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cải tạo tại địa phương.

Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên giữ quyền công tố luận tội đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 và các quy định khác của BLHS xử phạt: Nguyễn Đình T, Vũ Văn Hồng, Nguyễn Văn Th, mỗi bị cáo từ 15 – 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Phan Đức Hay từ 07 - 09 tháng tù; Các bị cáo Phạm Quang Quyến, Phạm Quang Đạt, Phan Văn Toán, Nguyễn Trí D, mỗi bị cáo từ 09 - 12 tháng từ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng; Các bị cáo Lưu Văn T, Đào Mạnh H, Đào Văn H, Hoàng Anh T, mỗi bị cáo từ 12-15 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo. Tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền 34.480.000 đồng và các công cụ phương tiện mà các bị cáo dùng để đánh bạc; Trả lại Phạm Quang Nhã 1.000.000 đồng không dùng vào việc đánh bạc và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên là đúng, không đề nghị được tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Xuyên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Đây là vụ án đánh bạc xảy ra tại nhà ở của vợ chồng anh chị Nguyễn Đình H, Nguyễn Thị Th ở thôn Đại Nghiệp, xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 08/01/2023, Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Nguyễn Văn Th, Phạm Quang Q, Lưu Văn Tiên, Phạm Quang Đ, Phan Văn T, Nguyễn Trí D, Phan Đức H, Đào Văn H, Đào Mạnh Hà, Hoàng Anh T, rủ nhau lên tầng 3 nhà vợ chồng anh Huy, chị Thu để đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền nhằm hưởng lợi bất chính, đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an bắt quả tang với tổng số tiền các bị can dùng để đánh bạc là 32.800.000 đồng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Đình Tú, Vũ Văn Hồng, Nguyễn Văn Thọ, Phạm Quang Quyến, Lưu Văn Tiên, Phạm Quang Đạt, Phan Văn Toán, Nguyễn Trí Dũng, Phan Đức Hay, Đào Văn Hạ, Đào Mạnh Hà, Hoàng Anh Tú, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất ổn định trật tự an ninh địa phương, đòi hỏi phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, vừa để cải tạo giáo dục các bị cáo vừa để răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có đồng phạm mang tính giản đơn, để có căn cứ xử lý các bị cáo cần cá thể hóa hình phạt và xem xét vai trò của các bị cáo trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Đình Tú, Vũ Văn Hồng là những con bạc tích cực nhất khi thay nhau giữ vai trò xóc cái, còn Nguyễn Văn Thọ, đánh bạc với số tiền lớn nhất so với đồng bọn, do đó hình phạt giành cho bị cáo phải cao nhất trong vụ án.

Bị cáo Phan Đức Hay cũng là con bạc tích cực, tham gia với số tiền không lớn, chỉ 2.000.000 đồng. Song bị cáo lại tái phạm do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 điều 52 BLHS, do đó, phạt giành cho Hay cũng phải tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Các bị cáo Phan Văn Toán, Phạm Quang Q, Phạm Quang Đ, Nguyễn Trí D đều là con bạc tích cực, có số tiền dùng để đánh bạc bằng nhau hoặc chênh lệch không đáng kể (T 2.500.000 đ, Q 2.000.000 đồng, Đ 2.500.000 đồng), riêng D chỉ đánh bạc với số tiền là 200.000 đồng, thua hết không chơi nữa, nhưng lại là người cắt quân, nên hình phạt cho Dũng phải ngang bằng với mức án của nhóm này

Các bị cáo Lưu Văn T, Hoàng Anh T, Đào Mạnh H, Đào Văn H, tham gia đánh bạc với số tiền nhỏ và ít hơn cả, nên hình phạt giành cho 03 bị cáo này là thấp nhất so với đồng bọn.

Xét hầu hết các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Tú, bị cáo Hạ, bị cáo Quyến có bố là thương binh, bị cáo Thọ thờ cúng liệt sĩ vv….Trừ bị cáo Hay, các bị cáo còn lại không bị cáo nào có tình tiết tăng nặng tại điều 52 BLHS, có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2022/HĐTP - TANDTC ngày 10/5/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì có đủ điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo điều 65 BLHS hoặc áp dụng điều 36 BLHS xử phạt cải tạo không giam giữ, mà không cần thiết phải xử phạt tù, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách, cải tạo cũng đủ giúp các bị cáo hoàn lương, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Riêng đối với Phan Văn Hay, dù đã chấp hành xong thời gian thử thách về tội phạm trước đó, chỉ là con bạc thuần túy, đánh bạc với số tiền không lớn (2.000.000 đồng), thật thà khai báo, phải nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ đẻ mắc bệnh hiểm nghèo, song HĐXX nhận thấy vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

Do các bị cáo đều là người lao động tự do hoặc làm ruộng, thu nhập thấp, vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Đối với các đối tượng Đào Tấn Ba, Phan Quốc Trị, Phạm Quang Nhã Phan Đình Hiệp, Phan Quốc Huy cũng có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh liêng, nhưng tổng số tiền những người này dùng để đánh bạc, chi có 1.680.000 đồng, dưới mức khởi điểm của khoản 1 điều 321 BLHS, nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính các đối tượng này là thỏa đáng. Tòa không xét.

Đối với chủ nhà là anh Nguyễn Đình Huy và chị Nguyễn Thị Thu, không biết và không có hành vi tổ chức cho các bị cáo và những người liên quan đánh bạc, cơ quan điều tra truy tố không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Tòa không xét.

Về vật chứng: Số tiền 35.480.000 đồng, cơ quan điều tra thu giữ trên chiếu bạc và trên người các bị cáo và những người liên quan, trong đó số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 34.480.000 đồng, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền 1.000.000 đồng Phạm Quang Nhã không sử dụng vào việc đánh bạc, thì trả lại cho Nhã. Các tang vật khác là 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, 01 bộ bài tú lơ khơ, 02 chiếc chiếu nhựa cũ, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Nguyễn Văn Th, Phan Đức H, Phan Văn T, Phạm Quang Q, Phạm Quang Đ, Nguyễn Trí D, Đào Văn H, Lưu Văn T, Đào Mạnh H, Hoàng Anh T, phạm tội “Đánh bạc”.

1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 58; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; tuyên phạt:

- Nguyễn Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Vũ Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Nguyễn Văn Th 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Nguyễn Văn Th cho UBND xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội kết hợp với gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp quận (huyện) có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ Thi hành án treo đến nơi cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định của Điều 62 của luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viên kiểm sát nhân dân cùng cấp.

1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; các điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS; tuyên phạt:

Phan Đức H (tên gọi khác là B) 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ số ngày tạm giữ từ ngày 08/1/2023 đến ngày 17/1/2023.

1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 58; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; tuyên phạt:

- Phan Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Phạm Quang Q 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Phạm Quang Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Nguyễn Trí D 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Phan Văn T, Phạm Quang Q, Phạm Quang Đ , Nguyễn Trí D cho UBND xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội kết hợp với gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp quận (huyện) có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ Thi hành án treo đến nơi cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định của Điều 62 của luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viên kiểm sát nhân dân cùng cấp.

5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điều 58; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; tuyên phạt:

- Đào Văn H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 10 (Mười) ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

- Lưu Văn T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 15 (Mười lăm) ngày .Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

- Đào Mạnh H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 15 (Mười lăm) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

- Hoàng Anh Tú 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 15 (Mười lăm) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

Giao các bị cáo Đào Văn H, Lưu Văn T, Đào Mạnh H, Hoàng Anh T cho UBND xã Tân dân, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội kết hợp gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

- Không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Đào Văn Hạ, Lưu Văn T, Đào Mạnh H, Hoàng Anh T.

6. Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS; tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 34.480.000 đồng (Bai mươi tư triệu, bốn trăm tám mươi ngàn đồng) là số tiền các bị cáo và những người có nghĩa vụ liên quan dùng để đánh bạc và do phạm tội mà có. Trả lại Phạm Quang Nhã số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ phần đáy bát in chữ LOHACO, 01 đĩa sứ phần đáy đáy đĩa in chữ THAIHUY, 02 chiếc chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 04 quân vị hình tròn, 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 quân bài).

Toàn bộ tiền và tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên (Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/4/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/4/2023)

7. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Nguyễn Đình T, Vũ Văn H, Hoàng Anh T, Phạm Quang Q, Lưu Văn T, Phạm Quang Đ, Phan Văn T, Phan Đức H, Đào Văn H, Đào Mạnh H, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Trí D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cảu bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ

Cỡ chữ