- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Ngọc Sâm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Ngọc Sphạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày 18/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiện Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tô Thị Ninh;
2. Ông Trần Văn Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày18/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa trực tuyến tại hai điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại Trụ sở TAND huyện Định Hóa và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ công an huyện Định Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:32/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST- HS ngày 05/5/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Ngọc S (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1974 tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã D2, huyện Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Ngọc N và bà Vi Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại bản án số:160/HSST ngày 17/8/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nông Ngọc S 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 14 (mười bốn) năm tù. S chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/6/2017 đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Định Hóa, Thái Nguyên. (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Đào Đình C, sinh năm: 1990.Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh T, (vắng mặt).
- Anh Ma Văn M, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh T,, (vắng mặt).
- Anh Hoàng Văn Triều, sinh năm: 1996.Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh T,, (vắng mặt).
*Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1954, (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1954, (vắng mặt).
Cùng ở địa chỉ: Xóm Q, xã T, huyện D, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 04/01/2023, tại nhà ở của Nông Ngọc S thuê của bà Vũ Thị S, thuộc xóm Xóm Q, xã T, huyện D, tỉnh T, tổ công tác của Công an huyện Định Hoá phát hiện, bắt quả tang Nông Ngọc S, đang thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Ma Văn M, Đào Đình C và Hoàng Văn Triều. Thu giữ trên người của Nông Ngọc S 02 gói nhỏ chất bột màu trắng; 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 23 gói nhỏ chất bột màu trắng, S khai là ma tuý loại Heroine và số tiền 400.000 đồnglà tiền Ma Văn M, Đào Đình C và Hoàng Văn T vừa đưa cho S để mua ma túy.Thu giữ tại chiếc hộp để ở đầu giường ngủ của S 01 túi nilon màu trong suốt bên trong có 01 cục chất bột màu trắng.Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Định Hóa tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Nông Ngọc S nhưng không thu giữ gì thêm.
Kết quả cân số chất bột màu trắng trong 02 gói nhỏ thu giữ của Nông Ngọc S có tổng khối lượng là 0,118 (không phẩy một một tám)gam, trích toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu M5 gửi giám định; số chất bột màu trắng trong 23 gói nhỏ có tổng khối lượng là 1,919 (một phẩy chín một chín)gam, trích toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu M6 gửi giám định; 01cục chất bột màu trắng được đựng trong 01 túi nilon trong suốt có khối lượng là 7,425 (bảy phẩy bốn hai năm)gam, trích toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu M7 gửi giám định.
Tại kết luận giám định số:210/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M5 gửi giám định là chất ma túy loại heroine, có khối lượng là 0,118 gam. Hoàn lại 0,103 gam mẫu M5 sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định là chất ma túy loại heroine, có khối lượng là 1,919 gam. Hoàn lại 1,873 gam mẫu M6 sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M7 gửi giám định là chất ma túy loại heroine, có khối lượng là 7,425 gam. Hoàn lại 7,387 gam mẫu M7 sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
Tại Bản kết luận giám định số: 375/KL-KTHS ngày 12/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Số tiền 300.000 đồng gửi giám định là tiền thật, Việt Nam đồng.
Quá trình điều tra S khai nhận: Khoảng tháng 9 năm 2022, S đến thuê và ở tại nhà của bàVũ Thị Sửu. Do có ý định mua ma túy bán lại cho người nghiện kiếm lời nên cuối tháng 12/2022, S đi đến khu vực cầu Gia Bẩy thuộc thành phố Thái Nguyên để mua ma túy loại Heroine về bán. Tại đây S đã gặp 01 người phụ nữ khoảng 50 tuổi và mua của người này 01 cục ma túy loại Heroine với giá 16.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, S mang về nhà trọ và chia nhỏ số ma túy thành nhiều phần rồi gói lại, sau đó cho vào túi nilon để bán với giá 100.000 đồng/01 gói. Số ma túy còn lại S cho vào túi nilon và cất giấu trong chiếc hộp để tại đầu giường ngủ của mình. Khi bán ma túy S đóng cửa nhà lại, nếu ai mua ma túy thì đưa tiền qua qua khe hở trên tường, sau khi nhận được tiền S sẽ đưa lại ma túy. BàVũ Thị Sửu ở nơi khác nên việc Nông Ngọc S thuê nhà bà Sửu rồi bán ma túy cho các con nghiện khác bà Sửu không được biết.
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 04/01/2023, khi S đang ở trong nhà thì có Ma Văn M, Đào Đình C và Hoàng Văn Triều đến nhà S hỏi mua ma túy S đồng ý. Sau đó Triều nói “Để cháu hai con”, Mừng và Chính cùng nói “Để cháu một con” và cùng nhau đút tiền gồm 01 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng 02 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng qua khe hở trên tường. S nhận được tiền cầm ở tay và lấy từ trong người ra túi nilon bên trong có các gói ma túy đã chia nhỏ đổ ra được 02 gói thì cùng lúc này bị tổ công tác của Công an huyện Định Hóa phát hiện bắt quả tang.
Về nguồn gốc số tiền S mua ma túy S khai do bản thân lao động mà có.
Về vật chứng:01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M5bên trong có 0,103 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M6bên trong có 1,873 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì ký hiệu là M7 bên trong có 7,387 gam ma túy, loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong bên trong là 03 vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và nhiều mảnh giấy màu trắng, mảnh giấy bạc màu vàng, mảnh giấy bạc màu trắng và gói nhỏ nilon ký hiệu là M4 và số tiền 400.000 đồngthu giữ của Nông Ngọc S hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa chờ xử lý.
Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSĐH ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nông Ngọc S ra xét xử về tội "Mua bántrái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, nội dung, hành vi phạm tội, hậu quả và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Ngọc S phạm tội "Mua bántrái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c điểm i khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Ngọc S từ 10 đến 11 năm tù, thời hạn tù tính tù ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Về hình phạt bổ sung:Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M5bên trong có 0,103 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M6 bên trong có 1,873 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì ký hiệu là M7 bên trong có 7,387 gam ma túy, loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong bên trong là 03 vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và nhiều mảnh giấy màu trắng, mảnh giấy bạc màu vàng, mảnh giấy bạc màu trắng và gói nhỏ nilon ký hiệu là M4thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước 400.000 đồng của bị cáo Nông Ngọc S do phạm tội mà có.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận, đối đáp: Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và hợp pháp.
. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nông Ngọc S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, vị trí, về số lượng Heroinebị cáo Nông Ngọc S bán ma túy và bị thu giữ. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 04/01/2023, tại nhà ở của Nông Ngọc S thuê của bà Vũ Thị Sửu thuộc xóm Quán Vuông 3, xã Trung Hội, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Nông Ngọc S đang thực hiện hành vi bán trái phép 02 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng cho Hoàng Văn Triều, 01 gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng cho Đào Đình C và 01 gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng cho Ma Văn M, thì bị tổ công tác của Công an huyện Định Hoá phát hiện bắt quả tang và thu giữ tổng số ma túy loại Heroine có khối lượng 9,462 (chín phẩy bốn sau hai)gam, S cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nông Ngọc S đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c và i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự .
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:…
c) Đối với 02 người trở lên;…
i) Heroine…có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;…”
Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[ 3]. Xét tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những người nghiện có ma túy để sử dụng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người và là một trong những nguyên nhân của một số loại tội phạm khác. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý, cần được xử lý nghiêm minh.
[ 4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2004, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” với tổng hợp hình phạt là 14 năm tù. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình để tu dưỡng rèn luyện, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội, vẫn tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi đánh giá toàn diện về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung trong xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, cần được xem xét khi lượng mức hình phạt đối với bịcáo.
. Về hình phạt bổ sung: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm kiếm lời. Vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M5bên trong có 0,103 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M6bên trong có 1,873 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì ký hiệu là M7 bên trong có 7,387 gam ma túy, loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong bên trong là 03 vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và nhiều mảnh giấy màu trắng, mảnh giấy bạc màu vàng, mảnh giấy bạc màu trắng và gói nhỏ nilon ký hiệu là M4 thu giữ của bị cáo Nông Ngọc S là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 400.000 đồng thu giữ của Nông Ngọc S do thực hiện hành vi phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo S khai mua của một người phụ nữ tại khu vực cầu Gia Bảy, TP Thái Nguyên do S không biết rõ tên, tuổi địa chỉ của người này nên không có đủ căn cứ để xác minh xử lý, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với Ma Văn M, Đào Đình C và Hoàng Văn Triều là những người đã đưa tiền để mua ma túy của S ngày 04/01/2023. Do Mừng, Chính và Triều chưa nhận được ma túy của S, nên không căn cứ để xử lý đối với Mừng, Chính và Triều.
BàVũ Thị Sửu cho Nông Ngọc S thuê nhà nhưng không biết việc S ở và bán ma túy cho các con nghiện khác kiếm lời vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với bà Sửu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Ngọc Sphạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c và i khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Ngọc S 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 04/01/2023.
* Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nông Ngọc S 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án,để bảo đảm cho việc thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M5 bên trong có 0,103 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu là M6 bên trong có 1,873 gam ma túy, loại Heroine; 01 (một) phong bì ký hiệu là M7 bên trong có 7,387 gam ma túy, loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong bên trong là 03 vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và nhiều mảnh giấy màu trắng, mảnh giấy bạc màu vàng, mảnh giấy bạc màu trắng và gói nhỏ nilon ký hiệu là M4 thu giữ của bị cáo Nông Ngọc S
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáoNông Ngọc S.
(Tình trạng vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09/5/2023giữa Công an huyện Định Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa và giấy ủy nhiệm chi).
3.Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nông Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Công an huyện Định Hóa; - Chi cục THADS huyện Định Hóa; - Bị cáo; - lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thiện Hoàng |