vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các ị cáo Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh ạc”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2023. Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Hải Đ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Tài cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các ị cáo Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh ạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày 14-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ;

Ông Hồ Đắc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/ĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với:

- Các bị cáo:

1. Thạch T, sinh năm 1994, tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch U và bà Mai Thị Tuyết L; bị cáo c v tên Nguyễn Thị Thu T, c 02 con sinh năm 2019 và 2021; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị M; bị cáo c v tên Trà Thị N; c 02 con, sinh năm 2010 và năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

3. Huỳnh Thanh P, sinh năm 2003, tại An Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh B và bà Phạm Thị L;

Tiền sự: Có 03 tiền sự.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 107/QĐ-XPHC ngày 20/8/2021 của Công an xã M xử phạt bị can số tiền 750.000 đồng về hành vi đá gà cựa sắt đư c thua bằng tiền. Bị cáo đã thi hành ngày 06/02/2023.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 84/QĐ-XPHC ngày 14/8/2022 của Công an huyện Dầu Tiếng xử phạt bị cáo số tiền 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích ho c gây tổn hại cho sức kh e của người khác nhưng không ị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thi hành ngày 02/02/2023.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 26/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện Dầu Tiếng xử phạt bị cáo số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp T sản”. Bị cáo đã thi hành ngày 03/02/2023.

Tiền án: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ, tạm giam đến nay. Có m t.

4. Trần Nguyễn Hải Đ, sinh năm 2004, tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H và bà Nguyễn Thị Hồng C;

Tiền sự: Có 02 tiền sự.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108/QĐ-XPHC ngày 20/8/2021 của Công an xã M xử phạt bị can số tiền 750.000 đồng về hành vi đá gà đư c thua bằng tiền. Bị cáo chưa thi hành.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 86/QĐ-XPHC ngày 14/8/2022 của Công an huyện Dầu Tiếng xử phạt bị can số tiền 3.250.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích ho c gây tổn hại cho sức kh e của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa thi hành.

Tiền án: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ, tạm giam đến nay. Có m t.

5. Võ Văn L, sinh năm 2001, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và bà Huỳnh Thị D; tiền án: không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

6. Lê Thanh S, sinh năm 1989, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị B; bị cáo c v tên Nguyễn Thị L; c 02 con, sinh năm 2011 và năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

7. Nguyễn Minh H1 (tên gọi khác là Xị), sinh năm 1988, tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị T; bị cáo c v tên Nguyễn Thị Thanh T; c 02 con, sinh năm 2011 và năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

8. Nguyễn Kim L1, sinh năm 1995, tại Hậu Giang; Nơi Đ ký hộ khẩu thường trú: ấp M, xã T, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Út N và bà Lê Ngọc Y; bị cáo có v tên Huỳnh M, có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

9. Trần Thanh A, sinh năm 1979, tại Hậu Giang; nơi Đ ký hộ khẩu thường trú: Ấp 3, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh Q và bà Ngô Thị N; bị cáo có v tên Phan Thị Kim Y; có 01 người con sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

10. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi Đ ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Võ Thị G; bị cáo có v tên Nguyễn Thị Hồng N (đã ly hôn), c 01 con sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt phạm tội quả tang ngày 22/01/2023 và bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023. Bị áp dụng iện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. C m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 22 tháng 01 năm 2023 tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, Công an xã Minh Hòa tiến hành ắt quả tang các đối tư ng gồm: Nguyễn Văn H, Thạch T, Nguyễn Kim L1, Võ Văn L, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Minh H1, Trần Thanh A, Trần Nguyễn Hải Đ, Huỳnh Thanh P, Lê Thanh S đang đánh ạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua ằng tiền. Vật chứng thu giữ như sau:

- Thu giữ trên chiếu ạc:

+ Tiền Việt Nam: 4.930.000 đồng;

+ 01 ộ lắc tài xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, c 06 m t, mỗi m t kích thước 01 cm, đư c chấm nút tròn từ 01 đến 06; 01 đĩa ằng sành, màu trắng, đường kính 10 cm; 01 nắp nhựa hình trụ tròn, màu đ , đường kính 6,5 cm, chiều cao 04 cm đư c quấn ăng keo màu đen ên ngoài.

+ 01 tấm nylon, màu trắng, c kích thước 152 cm x 385 cm.

- Thu giữ trên người các ị cáo:

+ Nguyễn Văn H: 2.000.000 đồng;

+ Thạch T: 1.200.000 đồng;

+ Nguyễn Kim L1: 700.000 đồng;

+ Trần Thanh A: 1.000.000 đồng;

+ Nguyễn Văn T1: 800.000 đồng;

+ Nguyễn Văn L: 700.000 đồng;

+ Nguyễn Minh H1: 700.000 đồng;

+ Trần Nguyễn Hải Đ: 1.200.000 đồng;

+ Huỳnh Thanh P: 900.000 đồng.

+ Lê Thanh S: 730.000 đồng.

Tổng số tiền thu giữ trên người các ị cáo là 9.930.000 đồng

Ngày 22/01/2023 (nhằm ngày mồng 01 Tết Nguyên đán năm 2023), các ị cáo đi uống cà phê và vui chơi Tết. C ị cáo g p nhau tại quán giải khát rồi rủ nhau chơi đánh ạc thắng thua ằng tiền, c ị cáo đi chơi rồi tình cờ nhìn thấy c đánh ạc nên tham gia. Các ị cáo khai nhận như sau:

1. Bị cáo Thạch T: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2023, khi T đi uống cà phê tại quán giải khát thuộc ấp H, xã M, huyện D do ông Nguyễn Bảo Tấn N (tên thường gọi là L), sinh năm 1984, HKTT: ấp H, xã M, huyện Dầu Tiếng làm chủ cùng với Nguyễn Văn H, Trần Nguyễn Hải Đ, Huỳnh Thanh P thì T rủ mọi người chơi lắc T xỉu thắng thua ằng tiền. Tất cả đều đồng ý. Sau đ , tất cả cùng nhau đi ra phía chòi rẫy của ông N để chơi lắc T xỉu thắng thua ằng tiền. T c mang theo 01 ộ lắc T xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, c 06 m t, mỗi m t kích thước 01 cm, đư c chấm nút tròn từ 01 đến 06; 01 đĩa ằng sành, màu trắng, đường kính 10 cm; 01 nắp nhựa hình trụ tròn, màu đ , đường kính 6,5 cm, chiều cao 04 cm đư c quấn ăng keo màu đen ên ngoài. Quy định khi người làm cái lắc xí ngầu m t trên của 03 hột xí ngầu cộng lại từ 03 đến 10 là “Xỉu”, từ 11 đến 18 là “T”, ên phải của nhà cái là T, ên trái của nhà cái là Xỉu, mỗi ván đ t số tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng.

T sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh ạc. T hùn tiền với Nguyễn Văn H, mỗi người số tiền là 600.000 đồng để làm cái. Còn lại số tiền 1.200.000 đồng, T để trong túi quần, nếu khi hùn tiền với Hiếu mà thua hết thì tiếp tục lấy số tiền còn lại để đánh ạc. T tham gia đánh ạc cùng với: Nguyễn Văn H, Nguyễn Kim Lộc, Võ Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh A, Nguyễn Minh H1, Trần Nguyễn Hải Đ, Huỳnh Thanh P, Lê Thanh S. Khi chơi thì không c ai thu tiền xâu. T và Nguyễn Văn H thay nhau lắc cái, nếu T lắc cái thì H giữ tiền, nếu H lắc cái thì T giữ tiền để chung tiền khi thua và lấy tiền khi thắng.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H và T làm cái đư c khoảng 40 ván thì ị lực lư ng Công an xã Minh Hòa đến ắt quả tang, lập iên ản thu giữ tiền và vật chứng c liên quan. T và H thắng đư c số tiền 200.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người T số tiền 1.200.000 đồng.

2. Đối với Nguyễn Văn H: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2023, H sử dụng số tiền 2.600.000 đồng để đánh ạc cùng với Thạch T, Nguyễn Kim Lộc, Võ Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh A, Nguyễn Minh H1, Trần Nguyễn Hải Đ, Huỳnh Thanh P, Lê Thanh S. Hiếu và Thạch T cùng nhau mỗi người hùn số tiền 600.000 đồng để làm cái lắc T xỉu. Còn lại số tiền 2.000.000 đồng H để trong túi quần, nếu khi hùn tiền với T mà thua hết thì tiếp tục lấy số tiền còn lại để tiếp tục đánh ạc. T và H làm cái đư c khoảng 40 ván, thắng đư c số tiền 200.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người của H số tiền 2.000.000 đồng và trên chiếu ạc nơi H ngồi số tiền 620.000 đồng.

3. Đối với Nguyễn Kim L1: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22 tháng 01 năm 2023, L1 và Trần Thanh A đang ở nhà L1 thuộc ấp H, xã M, huyện D thì Thạch T gọi điện thoại di động cho Trần Thanh A rủ A đi uống rư u. Sau đó, A rủ L1 cùng đi uống rư u. Khi A và L1 đến quán cà phê của ông N thì A và L1 thấy mọi người đang lắc T xỉu thì L1 đứng xem đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày thì cùng A tham gia đánh ạc. L1 mang theo số tiền 1.500.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 800.000 đồng để lắc T xỉu. L1 tham gia khoảng 20 ván, thua hết số tiền 200.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người của L1 số tiền 700.000 đồng và trên chiếu ạc nơi L1 ngồi số tiền 600.000 đồng.

4. Đối với Trần Thanh A: Ngày 22 tháng 01 năm 2023, A mang theo số tiền 1.600.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 600.000 đồng để lắc T xỉu. A tham gia chơi đư c khoảng hơn 10 ván, A thua hết số tiền 150.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người của A số tiền 1.000.000 đồng và trên chiếu ạc nơi A ngồi số tiền 450.000 đồng.

5. Đối với Nguyễn Minh H1: Tối ngày 22/01/2023, ị cáo đi chơi và mang theo số tiền 1.120.000 đồng. Tình cờ thấy c đánh ạc nên vào tham gia. Số tiền dùng để đánh ạc là 1.120.000 đồng. H1 tham gia đư c khoảng 40 ván, thắng đư c số tiền 180.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người của H1 số tiền 700.000 đồng và trên chiếu ạc nơi H1 ngồi số tiền 600.000 đồng.

6. Đối với Võ Văn L: Tối ngày 22/01/2023, ị cáo đi chơi và mang theo số tiền 1.200.000 đồng. Sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh ạc. L tham gia đánh ạc đư c khoảng hơn 08 ván, thua số tiền 100.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người của L số tiền 700.000 đồng và trên chiếu ạc nơi L ngồi số tiền 400.000 đồng.

7. Đối với Nguyễn Văn T1: Tối ngày 22/01/2023, ị cáo đi chơi và mang theo số tiền 1.150.000 đồng. Sử dụng số tiền 1.150.000 đồng để đánh ạc đư c thua ằng tiền. T1 tham gia chơi đư c khoảng 07 ván, thắng đư c số tiền 70.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người của T1 số tiền 800.000 đồng và trên chiếu ạc nơi T1 ngồi tiền 420.000 đồng.

8. Đối với Trần Nguyễn Hải Đ: Mang theo số tiền 1.600.000 đồng, Đ mua nước hết 30.000 đồng và lấy ra số tiền 370.000 đồng để sử dụng lắc T xỉu. Đ tham gia đư c khoảng 40 ván, thắng đư c số tiền 30.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người Đ số tiền 1.200.000 đồng và thu trên chiếu ạc nơi Đ ngồi số tiền 400.000 đồng.

9. Đối với Huỳnh Thanh P: Mang theo số tiền 1.320.000 đồng, nhưng chỉ lấy ra số tiền 420.000 đồng để sử dụng lắc T xỉu. P tham gia đư c khoảng 40 ván, thắng đư c số tiền 20.000 đồng. Khi ắt quả tang, thu trên người P số tiền 900.000 đồng và thu trên chiếu ạc nơi P ngồi số tiền 440.000 đồng.

10. Đối với Lê Thanh S: Mang theo số tiền 930.000 đồng, nhưng chỉ sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh ạc; số tiền 730.000 đồng S cất để trả tiền mua xe trả g p. S chơi đư c khoảng 06 ván, không thắng, không thua. Khi ắt quả tang, thu trên chiếu ạc nơi S ngồi số tiền 200.000 đồng và trên người của S số tiền 730.000 đồng.

Như vậy, số tiền sử dụng đánh ạc của các đối tư ng là: 10.260.000 đồng

Cáo trạng số 30/CT-VKSDT ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố các bị cáo Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh ạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:

+ Bị cáo Huỳnh Thanh P từ 08 đến 10 tháng tù.

+ Bị cáo Trần Nguyễn Hải Đ từ 08 đến 10 tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:

+ Bị cáo Thạch T từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

+ Bị cáo Nguyễn Văn H từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

+ Bị cáo Võ Văn L từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

+ Bị cáo Lê Thanh S từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

+ Bị cáo Nguyễn Minh H1 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

+ Bị cáo Nguyễn Kim L1 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

+ Bị cáo Trần Thanh A từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

+ Bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

* Về iện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 10.330.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng đánh ạc.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ộ lắc tài xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, c 06 m t, mỗi m t kích thước 01 cm, đư c chấm nút tròn từ 01 đến 06; 01 đĩa ằng sành, màu trắng, đường kính 10 cm; 01 nắp nhựa hình trụ tròn, màu đ , đường kính 6,5 cm, chiều cao 04 cm đư c quấn ăng keo màu đen ên ngoài và 01 tấm nylon, màu trắng, c kích thước 152 cm x 385 cm.

- Trả lại cho các ị cáo 4.530.000 đồng không dùng vào việc đánh ạc ( ị cáo Nguyễn Kim L1 700.000 đồng; Trần Thanh A 1.000.000 đồng; Trần Nguyễn Hải Đ 1.200.000 đồng; Huỳnh Thanh P 900.000 đồng; Lê Thanh S 730.000 đồng).

Tại phiên tòa: Các ị cáo Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, ăn năn, hối cải về hành vi đã gây ra. Các ị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đưa ra trong ản luận tội.

Lời n i sau cùng: Các ị cáo xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các ị cáo không c ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Lời khai của các ị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của các ị cáo tại cơ quan điều tra, các lời khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù h p các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên c căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2023, tại chòi giữ rẫy của ông Nguyễn Bảo Tấn N (tên thường gọi là Ly), thuộc ấp H, xã M, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, các ị cáo Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 có hành vi đánh ạc, thắng thua ằng tiền với hình thức lắc tài xỉu, mỗi ván đ t cư c từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng, với tổng số tiền dùng để đánh ạc là 10.260.000 đồng.

Hành vi của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự xã hội do nhà nước quản lý, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, mà còn là nguyên nhân kéo theo các tệ nạn xã hội khác. Các ị cáo là người c đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi đánh ạc thắng thua ằng tiền trái phép dưới mọi hình thức ị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ tư l i cho ản thân. Các ị cáo đã thực hiện hành vi đánh ạc với lỗi cố ý trực tiếp. Trong vụ án, các ị cáo đã trực tiếp tham gia đánh ạc với tổng số tiền đánh ạc là 10.260.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh ạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 30/CT-VKSDT ngày 09 tháng 5 năm 2023 đã truy tố các ị cáo Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh ạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là c căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án c tính chất đồng phạm giản đơn, các ị cáo không c sự phân công nhau rõ ràng, không c sự câu kết ch t ch , số tiền đ t cư c không lớn (30.000 đồng đến 50.000 đồng/mỗi ván bài). Xét thấy cần phân tích tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của từng ị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt:

Bị cáo Thạch T là người rủ các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Nguyễn Hải Đ và Huỳnh Thanh P đánh ạc, chuẩn bị dụng cụ để đánh ạc là người làm cái cùng với bị cáo Nguyễn Văn H. Sử dụng số tiền đánh ạc là 1.800.000 đồng, thắng đư c số tiền 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, Công an thu giữ trên người bị cáo số tiền 1.200.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn H: G p 600.000 đồng với bị cáo T để làm cái. Sử dụng số tiền để đánh ạc là 2.600.000 đồng, thắng đư c số tiền 200.000 đồng. Bị thu giữ số tiền trên người bị cáo 2.000.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 620.000 đồng.

Bị cáo Huỳnh Thanh P: Sử dụng số tiền để đánh ạc là 420.000 đồng, thắng đư c số tiền 20.000 đồng. Bị thu giữ số tiền trên người bị cáo 900.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 440.000 đồng. Từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 8 năm 2022, ị cáo liên tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến 03 lần bị Uỷ ban nhân dân xã Minh Hòa, Công an xã Minh Hòa huyện Dầu Tiếng và Công an huyện Dầu Tiếng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đá gà thắng thua bằng tiền; trộm cắp tài sản; cố ý gây thương tích ho c gây tổn hại cho sức kh e của người khác nhưng không ị truy cứu trách nhiệm hình sự, thế nhưng ị cáo không ý thức đư c hành vi sai phạm của mình để tu sửa. M c dù số tiền bị cáo đánh ạc không lớn nhưng thể hiện bị cáo xem thường pháp luật nên tiếp tục c hành vi đánh ạc thắng thua bằng tiền.

Bị cáo Trần Nguyễn Hải Đ: Sử dụng số tiền để đánh ạc là 370.000 đồng, thắng đư c số tiền 30.000 đồng. Bị thu giữ số tiền trên người bị cáo 1.200.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 400.000 đồng. Từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 8 năm 2022, ị cáo hai lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị Công an xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng và Công an huyện Dầu Tiếng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đá gà thắng thua bằng tiền; cố ý gây thương tích ho c gây tổn hại cho sức kh e của người khác nhưng không ị truy cứu trách nhiệm hình sự, thế nhưng ị cáo không ý thức đư c hành vi sai phạm của mình để tu sửa mà tiếp tục vi phạm.

Bị cáo Võ Văn L: Sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh ạc. Thua bạc 100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 700.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 400.000 đồng.

Bị cáo Lê Thanh S: Sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh ạc. Không thắng, không thua. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 730.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 200.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Minh H1: Sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc. Thắng đư c 180.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 700.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 600.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Kim L1: Sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh ạc. Thua bạc 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 700.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 600.000 đồng.

Bị cáo Trần Thanh A: Sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh ạc. Thua bạc 150.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 1.000.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 450.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn T1: Sử dụng số tiền 1.150.000 đồng để đánh bạc. Thắng đư c số tiền 70.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 800.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc 420.000 đồng.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự đối với các ị cáo như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường h p ít nghiêm trọng; thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 có nhân thân tốt quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nh một phần hình phạt đối với các ị cáo để các ị cáo thấy đư c sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các ị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của các ị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi đánh ạc có tính chất đồng phạm giản đơn, số tiền đánh ạc và số tiền đ t cư c không lớn, không mang tính sát phạt cao.

Bị cáo Huỳnh Thanh P và Trần Nguyễn Hải Đ có nhiều tiền sự, trong đ c tiền sự về hành vi đánh ạc, cần cách ly các bị cáo ra kh i xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện và các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, để các bị cáo thấy đư c sự nghiêm minh cũng như sự khoan hồng của pháp luật mà cải sửa để làm công dân tốt;

Đối với các bị cáo Thạch T và Nguyễn Văn H, góp tiền để làm cái, bị cáo T chia bài, bị cáo H kiểm soát thắng thua của các con bạc nên hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm hơn các ị cáo khác. Bị cáo Thạch T là người rủ rê, là người chuẩn bị dụng cụ để đánh bạc nên hành vi nguy hiểm hơn hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo biết đư c việc làm sai trái của mình nên tích cực nắm tình hình, cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho chính quyền địa phương để phát hiện, xử lý nhiều vụ việc vi phạm, góp phần ổn định trật tự tại địa phương. Điều này cho thấy bị cáo có khả năng tự cải sửa để làm người hữu ích cho xã hội. Do bị cáo Thạch T có thêm tình tiết giảm nh này nên mức hình phạt của bị cáo T và bị cáo Nguyễn Văn H là ngang nhau. Các bị cáo Thạch T, Nguyễn Văn H c nơi cư trú rõ ràng, việc không cách ly các bị cáo ra kh i xã hội không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương nên căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho hai ị cáo đư c hưởng án treo. Giao các ị cáo về địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Các bị cáo Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 c nơi cư trú rõ ràng, việc không cách ly các bị cáo ra kh i xã hội không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Các bị cáo thực hiện hành vi đánh ạc vì động cơ vụ l i, muốn c đư c tiền từ người khác mà không phải lao động nên xử phạt tiền đối với các bị cáo là phù h p để các bị cáo thấy đư c đồng tiền đư c tạo ra bằng việc làm chân chính có giá trị như thế nào, để không tái phạm.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo sử dụng số tiền đánh ạc không lớn, không mang tính sát phạt cao. Mứt hình phạt chính cũng đủ răn đe nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và iện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền 10.260.000 đồng, là tiền các bị cáo sử dụng để đánh ạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 70.000 đồng đư c thu tại chiếu bạc: Cơ quan điều tra không chứng minh đư c của bị cáo nào dùng vào việc đánh ạc, cũng không chứng minh đư c ai là chủ sở hữu. Để đảm bảo giải quyết toàn bộ nội dung vụ án nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với ộ lắc tài xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, c 06 m t, mỗi m t kích thước 01 cm, đư c chấm nút tròn từ 01 đến 06; 01 đĩa ằng sành, màu trắng, đường kính 10 cm; 01 nắp nhựa hình trụ tròn, màu đ , đường kính 6,5 cm, chiều cao 04 cm đư c quấn ăng keo màu đen ên ngoài và 01 tấm nylon, màu trắng, có kích thước 152 cm x 385 cm là công cụ dùng vào việc đánh ạc nên tịch thu tiêu hủy.

- Trả lại cho các ị cáo 4.530.000 đồng không dùng vào việc đánh ạc ( ị cáo Nguyễn Kim L1 700.000 đồng; Trần Thanh A 1.000.000 đồng; Trần Nguyễn Hải Đ 1.200.000 đồng; Huỳnh Thanh P 900.000 đồng; Lê Thanh S 730.000 đồng).

Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các ị cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng, xử lý vật chứng là c căn cứ, phù h p với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với mức hình phạt, Kiểm sát viên đề nghị mức phạt đối với các bị cáo Huỳnh Thanh P và Trần Nguyễn Hải Đ là phù h p đư c Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với mức hình phạt của bị cáo Thạch T và Nguyễn Văn H, Kiểm sát viên đề nghị phạt tiền là chưa phù h p với tính chất, mức độ của hành vi nên cần xử hai bị cáo là hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, để trong thời gian thử thách, các bị cáo tiếp tục cải sửa như Hội đồng xét xử đã nhận định trên đây. Đối với các bị cáo Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1, Kiểm sát viên đề nghị mức phạt tiền là cao so với tính chất, mức độ của hành vi các bị cáo thực hiện. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên.

Đối với việc xác định số tiền dùng để đánh bạc là 10.330.000 đồng là không phù h p. Bởi l , tổng số tiền thu giữ của các bị cáo là 14.860.000 đồng, trong đ các bị cáo khai đã sử dụng để đánh ạc là 10.260.000 đồng (bị cáo Nguyễn Văn H 2.600.000 đồng; Thạch T 1.800.000 đồng; L1 800.000 đồng; A 600.000 đồng; T1 1.150.000 đồng; L 1.200.000 đồng; Nguyễn Minh H1 1.120.000 đồng; Đ 370.000 đồng; P 420.000 đồng; S 200.000 đồng); thu giữ trên người các bị cáo là 9.930.000 đồng (tiền không dùng vào việc đánh ạc 4.530.000 đồng), thu trên chiếu bạc 4.930.000 đồng. Kiểm sát viên cho rằng số tiền đánh ạc là 10.330.000 đồng nhưng xác định số tiền đánh ạc của từng bị cáo là 10.260.000 đồng là không logic về m t số học, đồng thời gây bất l i cho các bị cáo. Số tiền 70.000 đồng thu trên chiếu bạc không chứng minh đư c ai là chủ sở hữu, Hội đồng xét xử xử lý như đã nhận định ở đoạn [9] của Phần nhận định này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các ị cáo phạm tội và ị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 268, 269, 298, 299, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 35, 46, 47, 58, 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

I. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các ị cáo Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh ạc”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2023.

- Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Hải Đ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2023.

2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Thạch T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.

3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Thạch T và Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường h p người đư c hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người đư c hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đư c hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt:

- Bị cáo Võ Văn L 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Bị cáo Lê Thanh S 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Bị cáo Nguyễn Minh H1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Bị cáo Nguyễn Kim L1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Bị cáo Trần Thanh A 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Bị cáo Nguyễn Văn T1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu các bị cáo Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1 không thi hành án đối với số tiền phạt nêu trên, thì các bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

II. B ện h ư h

ậ h ng:

1. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.330.000 đồng (mười triệu a trăm a mươi ngàn đồng).

2. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ lắc tài xỉu gồm 03 hột xí ngầu, c 06 m t, mỗi m t kích thước 01 cm, đư c chấm nút tròn từ 01 đến 06; 01 đĩa ằng sành, màu trắng, đường kính 10 cm; 01 nắp nhựa hình trụ tròn, màu đ , đường kính 6,5cm, chiều cao 04 cm đư c quấn ăng keo màu đen ên ngoài và 01 tấm nylon màu trắng, c kích thước 152 cm x 385 cm.

3. Trả lại cho ị cáo Nguyễn Kim L1 700.000 đồng ( ảy trăm ngàn đồng);

4. Trả cho ị cáo Trần Thanh A 1.000.000 đồng (một triệu đồng);

5. Trả cho ị cáo Trần Nguyễn Hải Đ 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng);

6. Trả cho ị cáo Huỳnh Thanh P 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng);

7. Trả cho ị cáo Lê Thanh S 730.000 đồng ( ảy trăm a mươi ngàn đồng).

Vật chứng và số tiền trên hiện Chi cục Thi hành án dân dự huyện Dầu Tiếng đang tạm giữ

Biên lai thu số AA/2021/0007757 01/6/2023

06/6/2023 ủ

III. Về n h h nh ự h :

Các bị cáo Huỳnh Thanh P, Trần Nguyễn Hải Đ, Thạch T, Nguyễn Văn H, Võ Văn L, Lê Thanh S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Kim L1, Trần Thanh A, Nguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

IV. Về quyền kháng cáo:

Các ị cáo đư c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/6/2023)./.

Cỡ chữ