- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày 28-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Thái và Ông Vũ Văn Hợp
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Thanh H, sinh ngày 16/02/1997 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: KP. M, TT. M, huyện C, tỉnh K; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Minh T, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị Mỹ T1, sinh năm 1972; Vợ là Nguyễn Thị N Y, sinh năm 1997 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2023 đến ngày 24/4/2023 được cho bảo lãnh tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
1/ Ông Danh D, sinh năm 1960 (vắng mặt)
2/ Anh Trịnh Hồng H1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T2 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh H là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 17 giờ ngày 03/02/2023 H nhờ người bạn tên T2 (không rõ nhân thân) mua giùm H 700.000 đồng ma túy để sử dụng. T2 cùng H đi đến khu vực xóm Cao Lãnh, sau đó, T2 đi vào trong một căn nhà rồi đi ra đưa cho H bịch ma túy. H cất giấu vào trong bóp da và để vào túi quần jean đang mặc trên người, túi phía sau bên phải. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 68L1-074.21 (chủ sở hữu chiếc xe là bà Bùi Thị Mỹ T1 – mẹ ruột của H) trên đường từ chợ Minh Lương đi về nhà, khi đi ngang nhà nghỉ T T thuộc KP. M, TT. M, huyện C, tỉnh K thì bị lực lượng Công an tuần tra kiểm tra phát hiện trong bóp da của H có 02 bịch nylon trong suốt có kích thước lần lượt là 02cm x 2,8 cm và 01cm x 2,5 cm, được hàn kín, chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. H thừa nhận 02 bịch nylon bị thu giữ là ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 101/KL-KTHS ngày 09/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận như sau: “Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lương mẫu gửi giám định là 0,3508 gam”.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKS-CT ngày 23/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Thanh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thanh H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 cái bóp da màu đen, có kích thước 9,5 cm x 22,5 cm, đã qua sử dụng và 02 bịch nylon trong suốt có kích thước lần lượt là 02cm x 2,8 cm và 01cm x 2,5 cm, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 101/2023 ngày 09/02/2023, người chứng kiến Đoàn Văn Hơn, giám định viên Lê Đức Huy, trợ lý Võ Trung Giang, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang là chất ma túy còn lại sau khi giám định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T2 liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, thể hiện: Phan Thanh H là đối tượng nghiện ma tuý. Vào ngày 03/02/2023 H nhờ người bạn tên T2 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) mua dùm 700.000 đồng ma tuý để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày khi H điều khiển xe đi đến KP. M, TT. M, huyện C, tỉnh K thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện túi sau bên phải H có 02 bịch nylon trong suốt được hàn kín, chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma tuý nên tiến hành lập biên bản. Qua kết quả giám định số: 101/KL-KTHS ngày 09/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận tang vật thu giữ gửi đi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3508gam. Từ những chứng cứ trên cho thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Riêng đối với đối tượng T2 thì theo lời khai của H, T2 là người mua ma tuý cho H nhưng do hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch của T2. Do đó, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác, khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả của việc sử dụng chất ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý. HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sửa đổi bản thân, làm lại cuộc đời và sống có ích cho xã hội.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
7.1 Đối với cái bóp da màu đen, có kích thước 9,5 cm x 22,5 cm, đã qua sử dụng, đây là T2 sản của Phan Thanh H không liên quan đến tội phạm nH1 do H không yêu cầu nhận lại và do cái bóp không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
7.2 Đối với 02 bịch nylon trong suốt có kích thước lần lượt là 02cm x 2,8 cm và 01cm x 2,5 cm, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số: 101/2023 ngày 09/02/2023, người chứng kiến Đoàn Văn Hơn, giám định viên Lê Đức Huy, trợ lý Võ Trung Giang, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang là chất ma túy còn lại sau khi giám định, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần xử tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.
Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thanh H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 03/02/2023 đến ngày 24/4/2023.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 cái bóp da màu đen, có kích thước 9,5 cm x 22,5 cm, đã qua sử dụng và 02 bịch nylon trong suốt có kích thước lần lượt là 02cm x 2,8 cm và 01cm x 2,5 cm, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 101/2023 ngày 09/02/2023, người chứng kiến Đoàn Văn Hơn, giám định viên Lê Đức Huy, trợ lý Võ Trung Giang, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, là chất ma túy còn lại sau khi giám định.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 28/QĐ-VKS-CT ngày 23/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện huyện Châu Thành.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử buộc bị cáo Phan Thanh H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Công An huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo Phan Thanh H; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Nguyễn Thanh Phong |