- Tranh chấp gì? án hình sự — "tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN C TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày: 04-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH Đ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh H.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1. Ông Lê Văn Ph
2. Bà Nguyễn Thùy Tr
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh -Thư ký Toà án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kim D- Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 7 năm năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C tỉnh Đ mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo;
Họ và tân: Lê Tr; Tên gọi khác: Trung Xì. Sinh năm 1991, tại tỉnh Đ; Nơi cư trú: ấp Phú Hội Xuân, xã Phú Long, huyện C, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: phụ giúp gia đình; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Thanh Sơn, sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 23/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 16/6/2021; Đặc điểm nhân thân: Ngày 28/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 21/6/2019; Bị tạm giữ hình sự ngày 10/4/2023, đến ngày 18/4/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Đ.
Người làm chứng: 1/ La Thế P sinh năm 1992; Cư trú: ấp Phú Cường, xã Phú Hựu, huyện C, tỉnh Đ; (Có mặt)
2/ Nguyễn Thị C sinh năm 1970; Cư trú: ấp Phú Hội Xuân, xã Phú Long, huyện C, tỉnh Đ; (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Tr là người nghiện ma túy. Chiều ngày 08/4/2023, Trung hỏi mượn xe mô tô hiệu Vision biển số 79Z1-177.22 của mẹ ruột là Nguyễn Thị C để chở bạn gái La Thế P về nhà của P thuộc ấp Phú Cường, xã Phú Hựu, huyện C, tỉnh Đ dự đám giỗ đến ngày 09/4/2023 mới về thì bà C đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Trung điều khiển xe đến khu vực công viên xã Tân Lược, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long mua 400.000đ ma túy đá của một người thanh niên chưa rõ họ tên, địa chỉ để sử dụng. Sau khi về nhà, Trung lấy một ít ma túy ra cho vào nỏ sử dụng một mình tại phòng của mình, số ma túy còn lại Trung chia 02 phần, một phần cho vào túi nylon dạng nắp kẹp rồi để vào bịch đựng khẩu trang hiệu “Lâm Thịnh”, một phần cho vào ống nhựa hàn kín 02 đầu để vào gói thuốc lá hiệu Jet. Sau đó để hai gói ma túy vào hai hộc của xe mô tô. Đến khoảng 16 giờ 45 phút ngày 09/4/2023, Trung điều khiển xe mô tô biển số 79Z1-177.22 chở La Thế P đi đến đoạn đường đan Cả Ngỗ, Mù U thuộc ấp An Thạnh, xã An Nhơn, huyện C, tỉnh Đ thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp cùng Công an huyện C kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật là 01 bịch nylon dạng nắp kẹp có viền đỏ và 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nylon đựng khẩu trang hiệu “Lâm Thịnh”; 01 vỏ thuốc là hiệu Jet; 01 xe mô tô biệu Vision biển số 79Z1-177.22; 01 điện thoại Iphone màu vàng và 01 điện thoại Iphone 6S màu xám của Lê Tr; 01 điện thoại Vivo màu đen, 01 điện thoại Oppo màu bạc và 1.650.000đ của La Thế P;
Khám xét phòng ngủ của Trung, Cơ quan Công an thu giữ 01 bình nhựa cao 9,5cm có gắn nỏ thủy tinh, trong phần miệng nỏ có dính chất bột màu trắng xám nghi là ma túy; 01 nỏ thủy tinh; 03 đoạn ống hút hàn kín một đầu; 01 bật lửa màu xanh; 01 cây kéo dài 12,5cm; 17 túi nylon dạng nắp kẹp; 01 dụng cụ khò lửa; 01 túi nylon bên trong có 12 viên đạn và 01 khẩu súng tự chế ;
Tại Bản kết luận giám định số 399/KL-KTHS ngày 14/4/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận như sau:
- Tinh thể rắn chứa trong bịch nylon dạng nắp kẹp có viền đỏ là chất ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,475 gam
- Tinh thể rắn chứa trong đoạn ống nhựa hàn kín hai đâu là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,117 gam
- Chất bột màu trắng xám dính bên trong nỏ thủy tin là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,096 gam
Như vậy tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Lê Tr là 0,688 gam;
Tại Bản kết luận giám định số 450/KL-KTHS ngày 25/4/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: 01 khẩu súng ngắn thu giữ khi khám xét nơi ở của Lê Tr là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng; 12 viên đạn là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm, thuộc vũ khí thể thao;
Qua điều tra xác định xe mô tô biệu Vision biển số 79Z1-177.22 là của ông Võ Anh Vũ ngụ xã Diên Đồng, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa đứng tên sở hữu bán cho bà Nguyễn Thị C vào năm 2017 chưa sang tên, việc Trung dùng xe để đựng ma túy thì bà C không biết; 01 điện thoại Iphone màu vàng và 01 điện thoại Iphone 6S màu xám là của Lê Tr; 01 điện thoại Vivo màu đen, 01 điện thoại Oppo màu bạc và 1.650.000đ là của La Thế P không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bà C, Trung và P. Những người này không có yêu cầu gì
Đối với 01 khẩu súng và 12 viên đạn, qua giám định thuộc vũ khí quân dụng và vũ khí thể thao nên Cơ quan điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ cùng tang vật đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ để điều tra xử lý theo thẩm quyền;
Đối với La Thế P không biết việc Trung sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý.
Đối với người bán ma túy cho Trung do không xác định được họ tên, địa chỉ nên không làm việc được, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã có thông tin về tội phạm đến Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long để giải quyết theo thẩm quyền;
Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS-CT ngày 11/6/2023 Viện Kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Lê Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ quan điểm truy tố về tội danh, nêu lên các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xst1 xử căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Lê Tr từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì được niêm phong, ghi niêm phong số 377/1; 377/2 và 377/3 cùng ngày 09/4/2023, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, có chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng Em, Nguyễn Văn Bé Năm, Nguyễn Huỳnh Trung và Lê Tr, là chất ma túy còn lại sau giám định; 01 bịch nylon đựng khẩu trang hiệu “Lâm Thịnh”; 01 vỏ thuốc lá hiệu Jet; 01 nỏ thủy tinh; 03 đoạn ống hút đã hàn kín một đầu; 01 bình nhựa cao 9,5cm có gắn nỏ thủy tinh; 01 bật lửa màu xanh; 01 cây kéo bằng kim loại dài 12,5cm; 17 túi nylon dạng nắp kẹp; 01 dụng cụ khò lửa là dụng cụ dùng sử dụng trái phép chất ma túy
Bị cáo Lê Tr thừa nhận hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo trình bày lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Ngày 08/4/2023, Lê Tr đến địa bàn huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long mua 400.000đ ma túy đá về sử dụng. Đến ngày 09/4/2023, Trung để ma túy vào hộc xe mô tô biển số 79Z1-177.22 rồi chở bạn gái La Thế P đi đám giỗ. Khi đến đoạn đường Cả Ngỗ, Mù U thuộc ấp An Thạnh, xã An Nhơn, huyện C, tỉnh Đ thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ 0,592 gam ma túy loại Methamphetamine, sau đó khám xét nơi ở của Trung thu giữ 0,096 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng cộng là 0,688 gam. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Lê Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) . . . . . . . . . . .;
c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[2] Bị cáo Lê Tr hoàn toàn nhận thức được rằng Methamphetamine là chất ma túy độc hại cho sức khỏe và tính mạng của người sử dụng. Những người nghiện chất này sẽ bị tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, có thể gây ảo giác, lệch lạc về lý trí dẫn đến vi phạm pháp luật. Nhà nước có những quy định chặt chẽ để nghiêm cấm, kiểm soát việc sản xuất, mua bán, vận chuyển và tàng trữ các chất ma túy, trong đó có Methamphetamine và pháp luật có những quy định chế tài, xử lý rất nghiêm khắc; Nhằm phòng chống, ngăn ngừa, hạn chế tệ nạn ma túy đang có chiều hướng phát triển, gây nguy hại cho cộng đồng và xã hội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Trung mang tính nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa P, gây khó khăn cho nhân dân và chính quyền địa P trong việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo Trung; Tại phiên tòa bị cáo Trung thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Trung ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mặt khác cũng để bị cáo Trung có thời gian được giáo dục, học tập, rèn luyện sức khỏe, để chữa trị, cai nghiện ma túy, có ý chí để dứt khoát từ bỏ, đoạn tuyệt với ma túy, để trở về đoàn tụ với gia đình, hòa nhập vào xã hội, làm ăn lương thiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trung đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trung không có tình tiết tăng nặng.
[5] Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Lê Tr , do số tiền mà bị cáo mua ma túy giá trị không lớn;
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu hủy bỏ khối lượng ma túy còn lại sau giám định;
[7] Bị cáo Lê Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố các bị cáo Lê Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ Luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Lê Tr 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ: 10/4/2023;
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì được niêm phong, ghi niêm phong số 377/1; 377/2 và 377/3 ngày 09/4/2023, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ có chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng Em, Nguyễn Văn Bé Năm, Nguyễn Huỳnh Trung và Lê Tr, là chất ma túy còn lại sau giám định; 01 bịch nylon đựng khẩu trang hiệu “Lâm Thịnh”; 01 vỏ thuốc lá hiệu Jet; 01 nỏ thủy tinh; 03 đoạn ống hút đã hàn kín một đầu; 01 bình nhựa cao 9,5cm có gắn nỏ thủy tinh; 01 bật lửa màu xanh; 01 cây kéo bằng kim loại dài 12,5cm; 17 túi nylon dạng nắp kẹp; 01 dụng cụ khò lửa là dụng cụ dùng sử dụng trái phép chất ma túy;
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Tr nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân tỉnh Đ;
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND tỉnh Đ; - VKSND huyện C; - CA huyện C; - Bị cáo; - THADS huyện C; - Sở tư pháp; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |