- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng N - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày 09 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Quang Uyên
Bà Trần Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở UBND xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/ QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng N (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 30/11/1972 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Tổ dân phố P3, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị P; có vợ là Trần Thị D (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự; Không; Nhân thân: Bản án số 18/2011/HSST ngày 05/5/2011 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Hồng N 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 17/11/2012 chấp hành xong bản án. Bản án số 29/2016/HSST ngày 30/8/2016 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Hồng N 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, ngày 24/3/2018 chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/4/2023, tạm giam ngày 08/4/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 05/4/2023, tổ công tác Công an tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại tổ dân phố P3, TT P, huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Hồng N đang ngồi ở cửa bên trong nhà trên tay cầm 01 gói nilon. Khi yêu cầu kiểm tra thì Nam đút gói nilon vào trong miệng, khi tổ công tác yêu cầu nhè ra Nguyễn Hồng N đã nhè gói nilon xuống nền nhà cạnh vị trí Nam ngồi, đồng thời khai nhận bên trong gói nilon là Heroin mua về để sử dụng cho bản thân. Khám xét nơi ở của bị cáo còn thu giữ 01 lọ nhựa có chữ "Omega 3" được đậy lại bằng nắp nhựa và túi nilon, bên trong có chứa chất lỏng màu hồng. Quá trình điều tra Nguyễn Hồng N khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 05/4/2023 N đi bộ từ nhà sang nhà Hoàng Thị T (sinh năm 1957, địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn P) cách nhà N 500m để hỏi mua ma tuý về sử dụng. Khi đến cổng nhà T, nhìn thấy T đứng bên trong nên bị cáo đứng ngoài hỏi mua ma tuý, T đã bán cho N 01 gói ma tuý với giá 50.000đ. Bị cáo cầm ma tuý ở tay phải đi về nhà, khi đang ngồi ở cửa định sử dụng ma tuý thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Đối với chất lỏng màu hòng thu giữ khi khám xét là chất ma tuý Methadone bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ga Phố Lu với giá 20.000đ cách thời điểm bị bắt khoảng 07 tháng.
Vật chứng thu giữ: 01 gió nilon bên trong có chất bột khô vón cục có khối lượng 0,50gam (mẫu M1). 01 lọ nhựa có chữ "Omega 3" được đậy lại bằng nắp nhựa và túi nilon, bên trong có chứa chất lỏng màu hồng thể tích 49ml (mẫu M2). Ngoài ra thu giữ của bị cáo số tiền 400.000đ. Tại kết luận giám định số 113/KL-GĐMT ngày 07/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai kết luận: Mẫu M1 0,50 gam chất bột vón cục gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine. Mẫu M2: Tìm thấy chất ma tuý loại Methadone trong 49ml chất lỏng màu hồng gửi giám định (cơ quan giám định sử dụng 9ml, hoàn lại 40,0ml). Tại kết luận giám định 3059/Kl-KTHS ngày 12/5/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Hàm lượng (nồng độ) chất ma tuý Methadone trong 40,0ml mẫu chất lỏng màu hồng gửi giám định là 8,5mg/ml.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSBT ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Hồng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hồng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, không đề nghị hình phạt bổ sung. Vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 0,40 gam Heroine và 37,5ml chất lỏng màu hồng chứa ma tuý Methadone, đề nghị tạm giữ của bị cáo số tiền 200.000đ để đảm bảo thi hành án và trả lại cho bị cáo số tiền còn lại 200.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hồng N khai nhận do nghiện ma túy nên bị cáo đã tìm mua 01 gói Heroine và ma tuý Methadone mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Trong vụ án này bị cáo tàng trữ hai loại ma tuý trong đó khối lượng ma túy Heroine là 0,50 gam. Đối với 49ml dịch chất lỏng màu hồng có chất ma tuý Methadone, bị cáo khai sau khi mua đã pha loãng dung dịch, cơ quan điều tra đã giám định xác định hàm lượng Methadone là 8,5mg/ml, như vậy tổng khối lượng ma tuý Methadone bị cáo tàng trữ là 0,4165g. Tổng khối lượng các chất ma tuý bị cáo tàng trữ đều dưới mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS trong đó các chất ma tuý có khối lượng thuộc trường hợp quy định tại điểm c, g khoản 1 Điều 249 BLHS. Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ "quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015", xác định như sau:
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine so với mức tối thiểu được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là: 10%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methadone so với mức tối thiểu được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là: 2,08%. Tổng tỷ lệ % là: 12,08%.
Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Hồng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Bị cáo Nguyễn Hồng N là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân dẫn đến sa vào nghiện hút ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu nghiện ma túy nhiều năm, từng hai lần bị xử phạt tù về hành vi liên quan tới ma tuý nhưng bị cáo vẫn không thay đổi sửa chữa. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có bố đẻ là người có công được tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải phạt bổ sung bị cáo.
. Các vấn đề có liên quan trong vụ án: Theo lời khai của bị cáo, ngày 05/4/2023 bị cáo đã mua ma túy của người phụ nữ tên là Hoàng Thị T (sinh năm 1957, địa chỉ: Tổ dân phố số X, thị trấn P, huyện B). Quá trình điều tra T không thừa nhận đã bán ma tuý cho bị cáo, ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với Thuỷ.
. Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,50 gam Heroine và 49ml chất lỏng có chứa ma tuý Methadone, cơ quan giám định đã sử dụng một phần hiện còn lại 0,40 gam Heroine và 37,5 ml chất lỏng có chứa ma túy Methadone cùng 01 lọ nhựa bên ngoài có ghi nhãn Omega 3 đậy bằng nắp màu trắng. Xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ các vật chứng này.
Cơ quan điều tra còn thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen và 01 căn cước công dân số 010072001185 cấp ngày 14/6/2022 mang tên Nguyễn Hồng N, quá trình điều tra xác định những tài sản, đồ vật này không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo số tiền 400.000đ, xét thấy cần tiếp tục tạm giữ 200.000đ để đảm bảo thi hành án và trả lại cho bị cáo 200.000đ.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng là đúng, tuy nhiên mức hình phạt đề nghị chưa phù hợp do bị cáo tàng trữ 0,50gam Heroine và 49ml chất lỏng có chứa Methadone được xác định nồng độ 8,5mg/ml, ngoài ra còn có hai tình tiết giảm nhẹ. Tại phiên toà bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2023.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,40 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được cho vào túi nilon đựng mẫu cùng mảnh giấy, mảnh nilon và bì thư niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Một mặt của bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong khi bắt quả tang Nguyễn Hồng N tại tổ dân phố P3, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 05/4/2023".
Tịch thu tiêu huỷ 37,5ml chất lỏng màu hồng có chứa chất ma tuý Methadone còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 lọ nhựa bên ngoài có ghi nhãn "Omega 3"đậy nắp màu trắng, 01 túi nilon cùng bì niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một bì thư của Viện khoa học hình sự - Bộ công an. Trên mép dán có hình dấu tròn của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người niêm phong.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hồng N số tiền 200.000đ, hiện đang được gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Bảo Thắng theo Biên bản giao nhận tài sản số 64/2023/BBGN-KBBT ngày 20/4/2023
Tiếp tục tạm giữ của Nguyễn Hồng N số tiền 200.000đ, hiện đang được gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Bảo Thắng theo Biên bản giao nhận tài sản số 64/2023/BBGN-KBBT ngày 20/4/2023, để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Thắng; - Công an huyện Bảo Thắng; - Cơ quan THAHS công an tỉnh LC; - Sở tư pháp tỉnh LC; - Bị cáo; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS,VP. Các Hội thẩm nhân dân | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Thị Giang Thanh Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Giang Thanh |